SÁCH LINH THAO
CỦA CHA D'ALZON
Văn
Hào chuyển ngữ
Lời tựa
Cha
d'Alzon nói rơ về điểm riêng biệt, về nội
dung và về cách sử dụng sách linh thao này.
Các con
quí mến,
Nét độc đáo sách linh thao của chúng ta: Hướng
dẫn linh thao mà cha viết cho các con đây là hoa quả
sau bao lần quan sát từ nhiều năm nay. Cha hay để
ư đến một số sự kiện trong sự quan
pḥng đă góp phần tạo nên một hướng dẫn
đặc biệt cho sự phát triển của Hội
Ḍng : v́ vậy giống như mỗi tu sĩ qua việc khấn
hứa, chúng ta có những đặc tính riêng với tư
cách là tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời.
Điều đó không có ǵ ḱ diệu,
nhưng các con cần phải tin, nếu như gia đ́nh
ta, dù có khiêm tốn đến mấy, được Thiên
Chúa ước muốn, phải có một mục đích và
ta phải hướng về mục đích ấy. Chính nhờ
học hỏi tư tưởng của việc lập
Ḍng, các con thăng tiến theo sự toàn thiên mà các con
được mời gọi để trở thành. Hướng
dẫn linh thao trong tay các con có chủ đích làm cho việc
ấy dễ dàng hơn trong cả cuộc đời.
Những
quan sát ban đầu: Để hiểu rơ cách sử dụng,
cần thiết có ba quan sát sau:
Quan sát thứ
nhất là phải xem đây như chỉ là bài b́nh luận
về luật tu ḍng, nếu bỏ xa việc này th́ sẽ
cần phải biết là các con đang đi ngược lại
mục đích đề ra.
Quan sát thứ
hai là việc muốn dạy các con theo những ư định
và tinh thần nào các con phải tuân theo những điều
bắt buộc của riêng các con, để luôn luôn là sống
động nhờ tư tưởng siêu nhiên.
Quan sát thứ
ba là mặc dù Luật Ḍng nói với những thành phần của
Hội Ḍng nói chung, bài linh thao th́ lại nói riêng với mỗi
tu sĩ, nói với mỗi một tâm hồn riêng biệt
trong sâu thẳm trái tim để chỉ dẫn cho nó những
cảm t́nh ăn sâu vào trong mỗi người, những
đức tính cần vun đắp trong thầm lặng
như trong mối tương quan thân mật với Chúa.
Lời tŕnh bày bài linh thao: Được chia thành chương nhỏ
theo những nguyên tắc, qua đó rút ra một vài hiệu
quả thực tiễn dưới dạng kiểm điểm
lại. Với sự tin tưởng nhờ đó có thể
giúp cho những người sử dụng khi để
dưới mắt họ, theo cách rơ ràng hơn,
phương cách thâu lược những đức tính bị
xem như không thể có, sửa chữa những nhược
điểm mà họ muốn bỏ đi; qua đó giúp họ
việc làm nội tâm và suy tư cá nhân nếu không mọi
việc đều không hữu ích.
Sách này sẽ được chia
làm ba phần: phần một nói về đặc tính của
Ḍng; phần hai nói về những đức tính của
người tu sĩ; phần ba nêu lên những phương
cách thánh hóa hầu giúp mọi người để trong cuộc
sống trở nên hoàn thiện hơn mà các con đă có, và ư
định siêu nhiên theo đó các con phải tuân theo những
bắt buộc chính của luật Ḍng.
Nếu
các con đọc những bài linh thao nhỏ bé này hơi vội
vàng, các con sẽ nhận thấy một số điều
lập lại; nhưng nếu các con suy niệm từng phần
một, các con sẽ hiểu điều đó cần thiết,
ít ra cũng hữu ích biết bao khiến các con suy nghĩ
về một số điểm như là nền tảng của
đời sống tu sĩ.
Lạy
Chúa xin vui ḷng chúc lành cho những bài viết này mà các con là những
người bắt chước, những dụng cụ và
nhờ Mẹ Thiên Chúa, và làm cho các con t́m được niềm
khát khao lớn lao hơn, hầu đạt đến mọi
sự thánh thiện mà các con được mời gọi!
E D'ALZON
PHẦN MỘT: TINH THẦN CỦA
D̉NG MẸ VỀ TRỜI
Chương một
TINH
THẦN CỦA D̉NG
Ḍng Mẹ
Về Trời đặc biệt dâng hiến cho Thiên Chúa.
Việc thờ phượng dành cho Ngài trong sâu thẳm nhất
của hữu thể Ḍng triển nó cách tự nhiên trong
t́nh yêu Mẹ Đồng Trinh, Mẹ của Ngài và của
Giáo Hội, hiền thê của Ngài. Ba đối tượng
này trong t́nh yêu đối với Thiên Chúa, với Mẹ
Đồng Trinh và với Giáo Hội h́nh thành nên, đối
với Cha d'ALZON, một trong những đặc thù của
tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời.
Tinh thần Ḍng Mẹ Về
Trời tóm lược trong mấy từ sau : yêu mến
Thiên Chúa, yêu mến Đức Mẹ Đồng Trinh, Mẹ
Ngài, và yêu mến Giáo Hội, Hiền thê của Ngài (3) .
Yêu mến Thiên Chúa : Theo phẩm chất tu sĩ, cha đặc
biệt là tôi tớ của Đức Giê Su Ki Tô, mọi sự
quí mến của tâm hồn, mỗi sức mạnh của
con người cha phải hướng về Ngài ; Ngài là cuộc
sống của Cha : " Mihi vivere Christus est. Le Christ est ma vie)
".
Đức Giê Su Ki Tô có phải là
tất cả của đời tôi ? … Có phải là điều
duy nhất tôi ao ước ?... Tôi có sẵn sàng hy sinh tất
cả cho Người ? Có phải tôi chỉ hướng
duy nhất về Ngài mà thôi ? Phải chăng tôi không c̣n
vương vấn đến ǵ khác ? … Trái tim tôi có hoàn toàn
tự do không ? … T́nh cảm của tôi không hướng về
một ai đó chăng, hay hướng về một cái ǵ
khác khiến t́nh yêu dành cho Giê Su bị trở ngại
nơi tôi ?...
Tự do tuyệt đối nhất
nơi trái tim tôi là cần thiết, và khi nào tôi chưa có
được tự do ấy, tôi sẽ không phải là tu
sĩ Ḍng Mẹ về Trời.
Yêu
mến Mẹ Đồng Trinh và Giáo Hội : Tôi không chỉ
không nên gắn bó với những ǵ cản trở tôi yêu mến
Chúa Giê Su hết sức, hết ḿnh, nhưng c̣n phải yêu
mến tất cả những ǵ Ngài đă yêu thương
nhất v́ t́nh thương của Ngài. Vậy nhưng, hai
t́nh cảm lớn lao nhất của Thiên Chúa khi ở trên
trần gian là Mẹ Maria, Mẹ Người, và Giáo Hội,
Hiền Thế của Người, nhờ máu của
Người.
Đâu là ḷng sùng kính của tôi
đối với Mẹ Maria ?... Tôi có thể nói là con của
Mẹ không?...Đến lúc này tôi đă làm ǵ để tôn
kính Mẹ trong đời sống thực tiễn ?...Ḷng
sùng kính của tôi không phải chỉ tỏ hiện trong một
vài công thức và chút t́nh cảm khó khăn hay sao ?...Tôi có ư
tưởng đầy đủ trong tương quan tuyệt
diệu có thể tồn tại giữa Mẹ Maria và tôi,
nhờ Đức Giê Su, Thầy tôi ?...
Sau Mẹ Người, Chúa Giê Su
đă không yêu thương ǵ hơn bằng Giáo Hội của
Người. Giáo Hội là Hiền Thê của Người,
là thân thể của Người. Giáo Hội của Chúa Giê
Su Ki Tô là ǵ đối với tôi, và đến giây phút hiện
tại này, Giáo Hội đă tạo cho tôi những t́nh cảm
yêu thương nào ?...Tôi làm ǵ cho Giáo Hội ? Tôi đă làm chứng
ǵ về Giáo Hội ?
Chương
II : Yêu mến Thiên Chúa chúng ta.
Chúa chúng ta là gương mẫu
tuyệt vời đối với mỗi đời sống
nội tâm, trước hết với tư cách là Thiên Chúa,
bởi v́ đời sống nội tâm là một phần của
đời sống Thiên Chúa ; tiếp đến với
tư cách là Con Người, bởi v́ trong nhân loại tính rất
thánh của Người phản ánh mọi sự toàn thiện
thiêng liêng. Đó là lí do Cha d'ALZON dành ba chương để
nói về t́nh yêu Thiên Chúa.
T́nh yêu đối với
Thiên Chúa đ̣i hỏi :
1. Tôn thờ Ba ngồi
rất thánh trong đó v́ là Thiên Chúa nên chỉ h́nh thành lên một
bản chất ; 2. Cách hiện diện của Thiên Chúa ; 3.
Học tập về nhân loại tính rất thánh của
Người mà tôi phải áp dụng để xây dựng
tính cách ; 4. Tôn thờ bí tích thanh thể trên bàn thờ
nơi Ngài luôn hiện diện v́ là Thiên Chúa thật và là
Người thật.
Tôn thờ ba ngôi.
Trong Chúa, chúng ta đặc
biệt yêu mến Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa là yêu mến
Người v́ Người ngự bên các tạo vật :
tôn thờ là thái độ đầu tiên mà t́nh yêu Chúa chúng
ta mặc lấy. Chúng ta tôn thờ Chúa Cha trong Con của
Người, Đấng mặc khải và trong Thần Khí
yêu thương được ban tặng cho chúng ta : Ba Ngôi
cao cả vui ḷng cho chúng ta thông phần vào trong tương
quan mật thiết ấy.
Tôi có
đủ tin rằng Chúa Giê Su KiTô là Thiên Chúa của tôi ?...Nếu
tôi đủ tin, tại sao tôi không thoát khỏi vực thẳm
chia cắt sự toàn thiện của Người khỏi
hữu thể hư nát của tôi ?...Tại sao tôi c̣n là một
kẻ kiêu căng khi đối diện với một
Đấng toàn nặng như thế ?...
Tôn thờ Chúa Cha : Chúa Giê Su Ki Tô là
Thiên Chúa của tôi, và Người đă xuống thế là
chỉ để dạy tôi tôn thờ Cha Người trong
thần khí và sự thật, sau khi đă ḥa giải thế
gian với Đấng tạo hóa bị xúc phạm. T́nh cảm
nào của tôi đối với Thiên Chúa Cha, tác giả và là
nguyên lí của mọi điều tốt lành và của mọi
ơn toàn thiện ?...Tôi có ư tưởng ǵ về sự
thành kính, về việc tôn thờ, về sự chúc lành, về
danh dự mà tôi mắc nợ Người, trong sự hiệp
nhất với việc tôn thờ và với vinh quang mà Con Một
Người đă làm.
Tôn thờ Chúa Con : Sự sống
đời đời của các thiên thần và các thánh nhằm
để biết Thiên Chúa thật là Đấng duy nhất
và Chúa Giê Su Ki Tô được Ngài sai đến để
tỏ hiện cho loài người. Có sự nhận biết
nào mà tôi không nhờ vào Đấng cứu độ với
một ơn gọi tuyệt vời như thế ?...Cho
đến hiện tại, tôi đă làm chứng điều
đó ra sao ? C̣n bây giờ, tôi muốn làm chứng cho Người
như thế nào ?... "Thiên Chúa Cha đă yêu thế gian
đến nỗi đă ban con một của Người";
khi nào tôi có thể trao tặng toàn thể con người
tôi cho Chúa một cách không khép kín và không sớt chia, trong sự
hiệp thông với con của Người và trong t́nh yêu mà
người Con thắp lên trong tâm hôm tôi nhờ Thánh Thần?
Tôn thờ Thần
Khí:
T́nh yêu hợp nhất Chúa Cha và Chúa Con là chính Thiên Chúa, và
chính nhờ t́nh yêu này, tức là Thánh Thần, mà tôi có khả
năng yêu mến Thiên Chúa; " bởi v́ t́nh yêu Thiên Chúa
đă tuôn tràn vào trong tâm hồn của chúng ta nhờ Thần
Khí được ban cho chúng ta". Thiên Chúa Cha đă ban tặng
Con Một của Người cho tôi; Chúa Con đă hiến
ḿnh v́ tôi và đă ban cho tôi chính t́nh yêu đă kết hiệp
Ngài với Chúa Cha; Người đă biến tôi thành đến
thờ của t́nh yêu ấy. Tâm hồn tôi là nơi Người
trao đặt t́nh yêu của Người, tức là Thiên
Chúa. Trái tim tôi phải là ǵ và tôi sẽ t́m thấy ở
đâu lúc này một nơi chốn mà t́nh thương không
được đốt cháy bởi t́nh yêu của Thiên
Chúa ?
Kết luận : Thiên Chúa Cha,
khi đă tạo dựng nên tôi, đă ban cho tôi con của
Người. Chúa Con trao tặng cho tôi để dạy tôi
nhận biết và tôn thờ Cha của Người, và ban
Thần khí cho tôi, tức Thiên Chúa, Đấng sẽ phù trợ
tôi v́ tôi không nhận biết và kêu lên trong tôi : " Lạy
Cha, lạy Cha ! ". Nhưng đến bao giờ tôi mới
bước vào trong sự sống mới này ?...Đến
bao giờ tôi sẽ để cho suối nguồn t́nh yêu là
ba Ngôi rất thánh tuôn tràn trong tôi ?...đến bao giờ
tôi sẽ trở về với Chúa Cha, với Chúa Con, và với
Thánh Thần, nhờ Đức Giê Su Ki Tô, cùng với Đức
Giê Su Ki Tô và trong Đức Giê Su Ki Tô ?...Đến bao giờ
tôi sẽ dâng lời chúc tụng mọi danh dự, mọi
vinh quang, trong thời gian và đến muôn đời (5) ?
Chương
III : Cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.
Tôn
thờ những sự toàn thiện vô cùng của Thiên Chúa và
chiêm ngưỡng những công tŕnh của Người qui tụ
chúng ta trong một cảm nhận quen dần về sự
hiện hữu của Thiên Chúa : dấu chỉ t́nh yêu
đích thực của Chúa chúng ta và nguồn đảm bảo
cho sự thăng tiến thiêng liêng.
Tôi phải
không ngừng nghĩ đến yếu tố ảnh hưởng
đến tâm hồn tôi. Nếu tôi yêu mến Chúa, tôi phải
không ngừng nghĩ đến Người ; nhưng v́
Người là Thiên Chúa, đặc biệt v́ chính Người
là Chúa nên tôi phải không ngừng mang lấy tư tưởng
của Người hiện diện trong tâm trí và tâm hồn.
Những sự toàn thiện của
Chúa chúng ta : Chúa Giê Su là Thiên Chúa của tôi, và v́ là Chúa,
Người là sự trọn hảo của hữu thể
tôi : " Trong Người, chúng ta có sự sống, hơi
thở, và mọi sự ; chính trong Người, chúng ta sống,
cử động, và hiện hữu".
Người lạ sự toàn thiện
vô cùng, sắc đẹp tuyệt hảo, và sắc đẹp
ấy của Người, Người ghi dấu vào tâm hồn
chúng ta : " ánh sáng Người được ghi dấu
vào tâm hồn ta ". Vậy nhưng, tội lỗi đă
làm do bẩn tâm hồn được tạo dựng theo
h́nh ảnh của Người, và phương cách tốt
nhất để lấy lại nét đẹp bị
đánh mất là ẩn ḿnh dưới gánh nặng của
hư không và đến với hồng ân của Chúa nhờ
luôn luôn chú tâm đến sự hiện diện của Thiên
Chúa.
Thiên Chúa là điều thiện hảo
tối cao của tôi ; v́ thế tôi phải t́m cách tiếp
cận Người ; hạnh phúc của tôi chính là có Người.
Cuộc sống tôi
trong sự hiện hữu của Chúa :
a) Sự
trọn vẹn của hữu thể loài người ! Tôi
có quen với sự hiện diện của Thiên Chúa ?...Tôi
có ở trong sự hiện diện của Người bằng
cảm nhận là tôi nhờ Người mọi sự
?...Khi nào c̣n có thể hiện hữu nhờ đức tin,
tôi chấp nhận sự toàn vẹn của Người
không, và nếu tôi có thể tin như vậy, tôi có chấp
nhận sự toàn vẹn của hữu thể hư nát của
tôi không ?...Tôi đă suy nghĩ đủ rằng thể xác,
những giác quan, tâm hồn, minh trí, tất cả đều
bởi Người mà có, tồn tại nơi Người
và sẽ không c̣n tồn tại khi ư muốn vô tận
Người không muốn ?...
Tôi không đụng chạm đến
ǵ khác ngoài công tŕnh của Thiên Chúa, ngoài sự sở hữu
Thiên Chúa. Mọi sự gợi tới Thiên Chúa hay ít ra cũng
nhằm để nhắc nhở Thiên Chúa trong tôi.
Tôi có trung thành với
con đường này của mỗi tạo vật, con
đường dẫn về với tác giả của nó
?...Trong sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng
luôn nh́n thấy tôi, tôi có sự kính trọng nào ?... Với
t́nh yêu và sự nhận biết nào khi tôi ở trong sự
hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đă ban mọi
sự cho tôi ?...
b) Sắc
đẹp vô tận ! Thiên Chúa là sắc đẹp vô tận,
và sắc đẹp ấy, Người đă muốn khắc
ghi vào tâm hồn tôi ; nhưng tội nguyên tổ đă phá
đi một lần, tội lỗi hiện tại phá hủy
mỗi ngày. Trong ḷng tốt không thể xóa nḥa của
Người, Người muốn trả lại cho tôi sắc
đẹp nguyên sơ ấy, nhờ hồng ân của
Người, và Người cũng muốn làm việc
để mặc lại sắc đẹp ấy cho tôi nhờ
cố gắng của tôi ; nhưng để làm việc
đó, Người muốn tôi tiếp cận Người,
và khi học hỏi những sự toàn thiện của
Người, tôi ghi lại trong ḿnh với tất cả khả
năng có được, nhờ những đức tính mà
tôi phải đạt được.
Tôi đă làm việc ấy chưa
?...Tôi có trông mắt nh́n ngắm tấm gương của
Thiên Chúa để cứu chữa những tàn phai của hồn
tôi khi bắt chước Người ?...Tôi có cố gắng,
tôi có học tập để hiệp nhất với Thiên
Chúa bằng tư tưởng, để rồi gắn chặt
với Người, tôi chỉ c̣n là thần khí với
Người, theo lời của Tông Đồ Phao Lô ?...
c) Điều
thiện tối cao ! Thiên Chúa là sự tốt lành tuyệt vời
nhất, điều thiện tối cao ; hạnh phúc của
tôi là sở hữu Người muôn đời. Nhưng nếu
hạnh phúc lớn lao của tôi là trong việc sở hữu
điều thiện như vậy, sao tôi lại không bận
tâm nữa đến nó ngay hạ giới này, sao tôi luôn luôn
không nghĩ đến nó ?...Sao tư tưởng của
tôi lại lạc lỏng nơi khác ?...Tại sao, để
có ơn ban tặng tuyệt hảo, tại sao chính tôi lại
không trở thành hoàn hảo ?...
Lạy Chúa, xin cho con không ngừng
bước đi với sự hiện diện của
Chúa, và như thế con đạt đến sự toàn thiện
!
Chương IV : Thần Khí Chúa
chúng ta
Chính
nhờ nhân tính rất thánh của Con Người mà Thiên
Chúa in dấu trong linh hồn chúng ta nên giống với Ba
Ngôi đáng tôn thờ. Nếu đặc tính thứ nhất
của sự toàn thiện ở trong việc thờ phượng
Thiên Chúa cách tuyệt đối nhất, đặc tính thứ
hai của sự toàn thiện là sự bắt chước
sắc đẹp và những sự toàn thiện của
Thiên Chúa, nhờ Chúa Giê Su Ki Tô. Việc đam mê học thuyết,
học mầu nhiệm và hành vi của Người nhằm
để chúng ta nắm bắt được thần khí
phải trở nên sự quan tâm bền bỉ của ta.
Để
yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô, cần phải biết Người,
và để biết Người, cần phải t́m hiểu
học hỏi những sự toàn thiện của Người.
Những điều đó được mạc khải
cho chúng ta trong Thánh Kinh, mà mục đích cuối cùng là Chúa
Giê Su Ki Tô: Cứu cánh của luật chính là Đức Kito.
Tôi có thể học hỏi về
Đức Giê Su Ki Tô, hoặc là trong học thuyết, hoặc
là trong những mầu nhiệm, hoặc là trong những
hành vi của cuộc đời Người.
1. Học thuyết:
Tôi sẽ t́m thấy hoặc trong những lời riêng của
Người, hoặc trong những giảng dạy của
các Tông Đồ để lại. Chúa Giê Su Ki To bởi là Thiên
Chúa nên Người là sự thật vĩnh hằng, la Lời
tuyệt hảo, càng suy niệm sự thật ấy, tôi
càng gần gũi Người, gần gũi chính Thiên Chúa.
Đức Giê Su Ki Tô đă đến
trần gian để mang đến cho tôi ánh sáng và sức
mạnh như là sự trợ giúp tôi đến với
Chúa, (mỗi nỗ lực của tôi phải hướng
đến hoàn thiện sự hiệp nhất này, bởi
đó là cứu cánh của định mệnh siêu nhiên, và cứu
cánh ấy được thực hiện nhờ hồng
ân Đấng Cứu Độ.
Cho đến giây
phút hiện tại, tôi đă có tôn trọng nào đối với
những giảng dạy của Đức Giê Su Ki Tô?...Tôi
đă biến đổi Tin Mừng trong trường hợp
nào?...Tôi đă đọc Tin Mừng với cảm giác
nào?...Tôi đă đánh giá ḷng nhân từ của Vị Thiên Chúa
không thỏa măn khi nhập thể nơi một con người,
lại c̣n nhập thể trong lời người phàm để
đem đến trí óc tôi và chiếu sáng nó?...Tôi đă làm ǵ
với bao sáng tỏ như thế?...Tôi đă xem những
giải thích của học thuyết về Đức Giê
Su Ki Tô được ban cho tôi nhờ các thừa tác viên của
Người như thế nào?...Tôi cố gắng suy niệm
học thuyết ấy, áp dụng cho tôi, biến thành cái
riêng của ḿnh, biến thành lương thực cho ḿnh
như thế nào?...Khi không biến tin Mừng thành một
trường họp nào, hoặc hầu như không, có ngạc
nhiên không khi tôi có tràn đầy ư tưởng loài người
và rồi tôi không hiểu biết ǵ về những sự
trên trời?...
2. Những mầu
nhiệm của Người: Cuộc đời Đức
Giê Su Ki Tô một mặt là sự sống Thiên Chúa, vô tận,
và như vậy, tràn đầy mầu nhiệm. Nhưng những
mầu nhiệm ấy, đâu là khó thấu hiểu bởi
cơ sở của đức tin, cũng là một giáng diệu
ḱ cho hồn tôi. Mặt khác, theo khía cạnh loài người,
những mầu nhiệm ấy chiếm lấy tôi bởi ở
ngay tôi; về khía cạnh thiên tính, nó nâng tôi lên cao và mang tôi
đến trong những tương quan sâu thẳm với
Thiên Chúa.
Học hỏi về
những mầu nhiệm phải là việc học suốt
cả đời tôi, v́ nhờ Chúa Giê Su KiTô, tôi sẽ học
nhận biết Thiên Chúa như chúng ta có thể nhận biết
Người tại hạ giới này. Nhưng v́ trong cuộc
đời Chúa Giê Su Ki Tô, những mầu nhiệm kế tiếp
nhau trong mọi lúc, tôi có thể theo một mầu nhiệm
nào đó, tùy theo sự chú ư của ḿnh: mầu nhiệm nhập
thế, mầu nhiệm ra đời, mầu nhiệm cuộc
đời ẩn náu, mầu nhiệm cuộc đời
rao giảng công khai, mầu nhiệm những đau khổ,
mầu nhiệm những khổ nạn, mầu nhiệm sự
chết, mầu nhiệm sự sống lại, có thể nối
tiếp nhau định hướng suy nghĩ của tôi;
hay là tôi có thể hướng theo một mầu nhiệm
đặc biệt trong một thời gian mà tôi sẽ t́m
được lương thực nuôi dưỡng tốt
nhất cho linh hồn.
Tôi đă đón nhận những mầu
nhiệm như thế nào?...Không phải là tôi biến những
mầu nhiệm nên như mục tiêu nghiên cứu ṭ ṃ
hơn là sự nghiên cứu đam mê về những điều
thiện hảo của Chúa?...Sự tôn thờ nào được
gởi lên trong hồn tôi?...Những điều thiện hảo
không phải đă từng là nguyên lí của sự nhàm chán
hay sao?...Không phải là tôi đă từng thỏa măn cho rằng
tôi không thể hiểu ǵ cả, thay v́ t́m hiểu với một
đức tin khiêm hạ để nắm bắt
được điều đặc biệt mà Chúa chúng ta
đă muốn để lại?
3. Những hành
động trong cuộc đời của Chúa chúng ta: Những
ǵ Chúa Giê Su Ki Tô đă làm trên trần gian, Ngài đă làm v́ lợi
ích chúng ta. Người không phải là một phần nhỏ
của cuộc sống riêng chúng ta, nhưng người vốn
không thể từ chối mang lại sự sống Thiên
Chúa. Mọi chi tiết Ngài chỉ dạy chúng ta phải
hoàn tất hành động theo tinh thần nào.
Không phải một lời phải
hô lên, một đ̣i hỏi phải làm, một cảm t́nh
phải h́nh thành, mà ta không thể thánh hóa khi hiệp nhất
với những t́nh cảm, những lời nói, những
hành vi của Thầy Chí Thánh. Đức Giê Su Ki Tô đă
hoàn thành mọi công lư, để dạy chúng ta hoàn thành
điều ấy. Để làm việc đó, tôi chỉ cần
đi vào trong sự sống hay trong sự chết của
Người với Chúa chúng ta.
Tôi đă t́m cách đối chiếu
cuộc sống ḿnh với cuộc sống của Chúa Giê
Su Ki Tô như thế nào?...Tôi đă học hỏi những
chi tiết của cuộc đời Người, kiểu
mẫu cho tôi như thế nào?...Tôi có tin rằng ở trong
tôi, dù chỉ là chút ǵ nhỏ bé cũng từ tư tưỏng
siêu nhiên mà ra?...Thầy đă làm gương cho anh em, Chúa
chúng ta đă dạy như vậy, để đến
lượt anh em, anh em cũng làm như vậy.
Cuộc sống của tôi phải
là một bản sao từ bản gốc thiên tính này. Trở
nên thực sự Chúa ư?...Và tại sao Chúa trở thành sự
thật ?...Không phải là tôi sợ khám phá ra những chi tiết
sẽ kết án tôi hay bắt buộc tôi thực hành nhân
đức làm lay chuyển bản tính tôi ?...Bao giờ tôi
mong muốn một lần nhất định đi đến
nơi nào sẽ làm đẹp ḷng Chúa Giê Su dẫn dắt
tôi ?
Chương V : T́nh yêu Đức
Mẹ Đồng Trinh
Yêu mến Đức Mẹ Đồng
Trinh xuất phát từ t́nh yêu đối với Chúa chúng ta
: Ta yêu mến Mẹ Maria bởi v́ Mẹ là t́nh
thương đầu tiên của Chúa Giê Su trên trần
gian. Mẹ được ban cho chúng ta như tấm
gương tương xứng với phần tạo vật
của ta và bởi Mẹ của ta dạt dào t́nh
thương và sức mạnh. T́nh thương của Mẹ
góp phần vào t́nh yêu của ta đối với Chúa thêm phần
tươi mát, tinh tế, và mạnh mẽ.
Nhờ sự ban ơn đầy
nhân từ, Chúa chúng ta không chỉ hài ḷng ban tặng ḿnh
như mẫu mực cho chúng ta, hoặc mẫu mực là
Chúa, hoặc mẫu mực là người, Người
đă muốn ban cho ta một mẫu mực khác nơi con
người Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người,
và là Mẹ chúng ta, và là công tŕnh tạo hoàn thiện nhất
của Đấng Tối Cao.
Mẹ Maria đồng
thời là mẫu mực và là Mẹ của tôi. Mẫu mực
của tôi: Tôi phải t́m cách bắt chước Mẹ
như khi tôi khấn hứa trong đời tu sĩ theo sự
toàn thiện là có khả năng bắt chước Nữ
Vương trên Trời và dưới đất ; Mẹ của
tôi : Tôi phải có sự tin tưởng, sự dịu dàng
tuyệt đối nhất dành cho Mẹ.
Maria, mẫu mực
của tôi : 1o Tôi chỉ biết những nhân đức của
Thánh Nữ Đồng Trinh theo những ǵ Thánh Kinh nói đến,
nhưng cũng đủ rồi và tôi không cần thêm nữa.
a) Trong mầu nhiệm
nhập thể : Tôi ngưỡng mộ trước hết
sứ thần trong trong câu hỏi Mẹ đặt ra cho sứ
thần Thiên Chúa sai đến để kính chào Mẹ nhân
danh Chúa. Sự vâng lời và đức tin của Mẹ tỏ
ra không kém trong câu trả lời của Mẹ : " Này
đây là tôi tá Chúa ". Đức tin ấy là cứu cánh của
mỗi điều ḱ diệu được thực hiện
nhờ Mẹ, và đó cũng là điều Elisabeth mạc
khải cho Mẹ khi công bố rằng Mẹ là " đấng
diễm phúc đă tin, v́ nơi mẹ sẽ hoàn tất mọi
sự theo lời Đức Chúa đă phán với Mẹ
".
b) Trong lời kính
Mangificat : Những nơi sâu thẳm của linh hồn Mẹ
Maria tỏ hiện chính là trong cách Mẹ trả lời
người chị họ : " Linh hồn tôi tôn vinh Chúa
". Cứu cánh của cuộc đời Mẹ Maria là
vinh quang Thiên Chúa ; hạnh phúc của Mẹ là phục vụ
Người và khắc ghi trong ḷng về những hồng
ân Mẹ đă nhận. Đó là chứng tá về những
ǵ Chúa ban tặng cho mỗi linh hồn trung tín, niềm hy vọng
và sự tin tưởng ở giữa băo tố. Đó là
điều tôi khám phá trong kinh Magnificat của Mẹ Maria.
c) Trong mỗi nẻo
đường : Tôi sẽ theo Mẹ về Nazareth, trong
công việc thường ngày bên cạnh Giu Se ; ở Betléem
nơi Mẹ sinh con Thiên Chúa trong máng cỏ. Tôi sẽ theo Mẹ
lên Đền Thờ nói Mẹ sẽ dâng con Mẹ cho Chúa.
Tôi sẽ theo Mẹ đi sang Ai Cập nơi Mẹ chạy
trốn để bảo vệ con Mẹ khỏi ác ư của
vua Hêrôđê. Tôi sẽ theo Mẹ lên Gierusalem, nơi Mẹ mất
con Mẹ trong ba ngày. Tôi sẽ theo Mẹ nơi xưởng
mộc của Giu Se, nơi Mẹ trải qua 18 năm sống
ẩn dật cho đến lúc phân tán, hoặc là v́ việc
loan báo Tin Mừng, hoặc là v́ lên đồi Canvê. Trong tất
cả sự kiện ấy, bấy nhiêu tấm gương,
bấy nhiêu bài học !
a) Như Mẹ
Maria lúc truyền tin : Tôi có sự cẩn trọng như Mẹ
Maria trong những lúc quan trọng của cuộc đời
không ?...Tôi có sự cẩn trọng ấy trong tương
quan với tha nhân không ?...Tôi có đức vâng lời như
Mẹ không, ngay khi ư muốn Thiên Chúa tỏ ra nơi tôi,
không chỉ thông qua các bác Bề Trên, mà c̣n qua những ai
đại diện Chúa?...Tôi có đức tin như Mẹ
để chấp nhận những mệnh lệnh khó
khăn nhất không ?...Tôi có tư thế sẵn sàng để
đi vào đời sống nội tâm cách nghiêm túc và để
ư Chúa muốn và chờ mong tôi phụ theo những khao khát của
Người được thực hiện trong tôi không
?...Phải chăng tôi không sợ ?...Phải chăng tôi
không hay nghĩ ?...Phải chăng tôi không sợ sai trong công
việc yêu cầu phải làm ?...
b) Trong kính Magnificat
của Mẹ : Trong suốt cuộc đời, tôi có mục đích
nào khác ngoài vinh quang Thiên Chúa hay sao ?...Phải chăng khát
khao có được vinh quang ấy làm tan biến mọi nỗ
lực của tôi ?...Tôi có đạt mọi hạnh phúc của
ḿnh trong Chúa ?...Nguồn đỡ nâng, tôi không đặt
nơi chính ḿnh hay nơi các tạo vật sao ?...ư định
duy nhất đến thẳng với Chúa mà không cần
nh́n phải nh́n trái để xem có tồn tại trong sâu thẳm
hồn tôi không ? Tôi có t́m hiểu về những ǵ Thiên Chúa
thực hiện trong tôi nhờ sức mạnh cánh tay
Người, giá như tôi để cho Người hành
động trong tôi ?...V́ những ǵ ô uế, ve văn, kiêu
căng trong trái tim chỉ làm hại nếu tôi không sợ
phó thác những thứ ấy ngự trị trong Đấng Tối
Cao.
c) Trên mỗi nẻo
đường : Trong mỗi thử thách, tôi có đặt
trọn niềm hy vọng, sự tin tưởng trong Thầy
Cao trọng không ?...Không phải tôi đă chỉ giựa vào
Người mà thôi ư ?...Không phải tôi là người
nghèo khó của Bethléem sao ?...Không phải tôi là người cần
cù lao động ở Nazareth sao ?...Tôi đă dâng trọn
đời cho Chúa Chúa ?...Tôi đă trao gửi tất cả
cho Người như Mẹ Maria đă làm cho Chúa Giê Su
?...Tôi đă thích đời sống ẩn dật của
Chúa ?...Tôi đă chấp nhận một cách rộng lượng
những phân chia mà Tỉnh Ḍng đă đặt lên tôi hay có
thể đặt lên tôi mỗi ngày ?...Tôi có chấp nhận
ngay sự chia cách của Chúa Giê Su ?...Chính nhờ việc
suy niệm cuộc đời mẫu mực đáng ngưỡng
mộ ấy mà tôi sẽ có tinh thần một tu sĩ thật
sự.
d) Maria Mẹ tôi : Nhưng Maria không
chỉ là mẫu mực cho riêng tôi, Ngài là Mẹ tôi. Ở
trên đồi Calvaire, ở dưới chân thập giá của
con Mẹ là lúc Mẹ nhận tôi làm con. Mẹ nhận tôi
khi theo một cách nào lúc Mẹ đang mang đầy máu Chúa
Giê Su đổ ra v́ tôi ; và mặc dù sự ghê tởm tí gây
cho Người, v́ nếu Chúa Giê Su chết, đó là do tội
lỗi của tôi, Mẹ nhận tôi làm con v́ con của Mẹ.
Từ nay, tôi là con Mẹ. Vinh dự nào hơn có một
người Mẹ như thế ! Hạnh phúc nào hơn bằng
sự trao đổi như thế !...Ḷng biết ơn
nào, t́nh thương mến nào tôi không nhớ Mẹ ?...Những
sự thương mến, sự biết ơn ấy là ǵ
nếu tôi từ chối mỗi ngày bởi một sự sống
đối lập với sự sống của Mẹ Maria
?
Nếu yêu mến Mẹ,
tôi phải chứng tá khi hoàn thành trong tôi những ǵ đẹp
ḷng Mẹ ; bằng cách xem nhẹ những ǵ không xứng
đáng về Mẹ trong tâm trí tôi ; bằng cách dành cho Mẹ
mối t́nh thương mến tinh tế để chứng
tỏ rằng trong tôi Mẹ có một người con thực
sự. Cuộc sống tôi có chứng tỏ được
cho Mẹ điều đó không ?
Chương
VI: T́nh yêu Giáo Hội
Chúng
ta cũng yêu mến Giáo Hội bởi v́ Chúa Giê Su đă yêu
mến Giáo Hội; t́nh yêu dành cho Giáo Hội giúp cho t́nh yêu của
ta đối với Chúa tràn lan ra mỗi chiều kích trên thế
gian. Cha d'ALZON nhấn mạnh đến sự gắn bó mật
thiết và sự nhiệt tâm trọn vẹn mà Giáo Hội
phải khơi nguồn cảm hứng nơi chúng ta.
T́nh
yêu ấy là quy luật của lời khấn hứa khi
được chấp thuận sau một thời gian của
các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời nhằm nhiệt tâm dấn
thân v́ sự triện nở của Nước Thiên Chúa
trong các linh hồn.
1o Tại sao tôi phải
yêu mến Giáo Hội?...
a) Giáo Hội là ǵ
đối với Chúa chúng ta: v́ Chúa chúng ta :
Vương Quốc của Chúa chúng ta là ǵ, nếu không phải
là hành động của Người trong Giáo Hội ?...Để
biết Chúa đă yêu thương Giáo Hội như thế
nào, tôi cần quí mến tất cả những ǵ Người
đă làm cho Giáo Hội.
V́ Giáo Hội, Người đă từ
trời mà đến, Người đă nhập thể,
đă sinh ra trong máng cỏ, đă trải qua 30 năm đời
sống lao động vất vả, nghèo khó và ẩn náu ;
Người đă chịu phỉ báng, bách hại, xỉ nhục,
đau khổ ghê tởm nhất, chịu chết trên tháp tự
giá, tất cả những điều đó là v́ Giáo Hội,
thân thể huyền nhiệm của Người. Nếu
yêu Chúa Giê Su Ki Tô, tôi phải yêu mến những ǵ Người
có quí giá nhất ra sao?...
b) Hơn nữa, Giáo Hội là ǵ
đối với tôi ?...Giáo Hội là Mẹ tôi. Nơi Giáo Hội
và nhờ Giáo Hội, tôi được sinh ra với sự
sống mới trong nước phép rửa tội ; nhờ
Giáo Hội, Chúa Giê Su Ki Tô ǵn giữ sự sống Thiên Chúa
trong tôi, và nhờ trợ giúp của các bí tích mà Giáo Hội
là người phân phát. Nhờ Giáo Hội, trí thông minh
nơi tôi được sáng tỏ nhờ ánh sáng sự thật
đời đời. Giáo Hội được giao phó giảng
dạy sự thật ấy với quyền bính không sai lạc.
Nhờ Giáo Hội, tôi không ngừng đạt được
vô vàn trợ giúp đỡ nâng và khích lệ tôi hướng
tới điều thiện. Nhờ Giáo Hội, Hội Ḍng
nhỏ bé của chúng ta được chúc phúc trong đó
tôi là thành viên. Gia đ́nh mà tôi đă chọn lựa để
yêu thương và phục vụ Thiên Chúa tốt hơn.
Không có Giáo Hội, tôi sẽ không nhận biết bao nhiêu,
tôi sẽ không thể phục vụ tốt Thiên Chúa, Đấng
mà tồi tận hiến đời ḿnh.
c) V́ những linh hồn
khát khao sự toàn thiện : Hiền thê tuyệt hảo của
Chúa Giê Su Ki Tô, Giáo Hội gọi những linh hồn
được ưu tiên đến lượt họ, trở
thành những hiền thê, và trong mầu nhiệm đáng kính
này, chính trong lửa của Thánh Thần mà Giáo Hội mời gọi tôi ḥa
vào sự hiệp thông khó hiểu giữa tạo hóa và Đấng
Tạo Hóa. Điều Chúa Giê Su Ki Tô yêu thích đặc biệt
trong Giáo Hội là những linh hồn được thánh
hóa. Không phải mọi linh hồn đều được
nâng lên cùng một bậc thang của sự toàn thiện,
nhưng tất cả đều được mời gọi
trở nên toàn thiện. Vậy nhưng, trong ḷng nhân từ
vô biên, Chúa chúng ta không muốn hành động đơn
độc trong công việc hoán cái và thánh hóa các linh hồn.
Người phó thác cho Giáo Hội những người ki tô
hữu, chính v́ điều đó mà Người đă lập
nên chức linh mục, và người cho phép mọi người
đón nhận các hồng ân có chừng mực để
cùng chung một việc, tùy theo địa vị của họ,
sức mạnh của họ.
2o Tôi phải yêumến
Giáo Hội như thế nào?...
a) Như là quê
hương và Mẹ tôi: trước hết, tôi phải yêu
mến Giáo Hội như là quê hương tôi. Thực vậy,
Giáo Hội chính là quê hương hồn tôi, là xă hội nhờ
đó tôi được hiệp nhất với Thiên Chúa ;
tiếp đến, tôi phải yêu mến Giáo Hội như
là Mẹ tôi. Tôi là con Thiên Chúa. Giáo Hội c̣n chính là bí tích biến
tôi trở nên con cái Thiên Chúa, nên con cái Giáo Hội.
b) trong mỗi thành
phần của Giáo Hội : Tôi phải yêu mến tất cả
những ǵ làm Giáo Hội sống động : Người
đứng đầu hưu h́nh của Giáo Hội, tức
Đức Thánh Cha, Giao Hoàng. Người mà từ thánh Phêrô
đă trở nên ḥn đá chắc chắn mà Giáo Hội
được xây dựng trên đó. T́nh yêu của tôi dành
cho Chúa Giê Su Ki Tô phải nới rộng đến Vị Tổng
Quản của Người trên trần gian. Tôi phải yêu
mến mỗi phẩm trật trong Giáo Hội và cầu
nguyện nhiều để các thành phần trong Giáo Hội
có những trợ giúp và những hồng ân cần thiết
cho sứ mệnh truyền giáo.
Tôi phải yêu mến các linh hồn
đang tẩy rửa trong lửa luyện ngục để
trở nên xứng đáng nh́n xem Thiên Chúa. Tôi phải yêu mến
và cầu khẩn những linh hồn công chính đang ngự
bên Chúa Giê Su Ki Tô trong Giáo Hội khải hoàn. T́nh yêu của
tôi phải hiệp nhất những phần tự khác biệt
ấy trong cùng một Giáo Hội.
c) Với ḷng nhiệt
thành trọn vẹn: Nhưng đôi khi cũng quan trọng
đối với tôi là người tận tâm hết ḷng.
Như nó phụ thuộc vào tôi bao nhiêu và theo sự yếu
đuối của bạn thân, th́ trong Giáo Hội đang
tranh đấu trên trần gian bấy nhiêu. Cầu nguyện,
hăm ḿnh hành xác trong đớn đau phải mang một dấu
ấn đặc biệt bởi ḷng sùng kính, khi tôi nghĩ
ḿnh có thể góp phần cứu giúp các linh hồn. Thái độ,
hành động, lời nói, giảng dạy, mọi chức
năng người khác giao phó cũng qui về một mục
đích dù trực tiếp hay gián tiếp, phải thấm
nhuần cùng một t́nh cảm và một t́nh yêu.
a) Tra vấn
lương tâm: đối với t́nh yêu Chúa Giê Su: Tôi đă
yêu mến Giáo Hội v́ t́nh yêu Đức Giê Su Ki Tô
không?...Tôi đă cảm tạ Thầy Nhân Lành này chưa v́ tất
cả những ǵ Người đă làm để lập
nên Giáo Hội Công Giáo mà tôi có vinh dự ở trong
đó?...Tôi có thỉnh thoảng suy niệm về những
ǵ làm mệt mỏi Người, những ǵ hạ nhục
Người, những ǵ làm khó Người khi Người
lập Giáo Hội?...
b) Như là Mẹ
tôi: Tôi là con cái của Giáo Hội; tôi có yêu mến Giáo Hội
như Mẹ ḿnh không?...Tôi đă biết ơn đầy
đủ về sự sống mới nhận được
trong Giáo Hội không ?...Về những hồng ân làm nguồn
nuôi dưỡng thiêng liêng cho linh hồn tôi?...Về hạnh
phúc có thể nuôi dưỡng nhờ ḿnh và máu Chúa trong Giáo Hội?...
c) Trong mỗi thành
phần của Giáo Hội: Tôi có cảm động về
những cuộc bách hai Giáo Hội không?...Tôi đă cầu
xin Chúa ban b́nh an và tự do mà Giáo Hội cần đền
chưa?...Tôi đă cầu nguyện với trọn niềm
sùng kính những linh hồn công chính ở trên trời đến
trợ giúp không?...Tôi đă cầu nguyện cho các linh hồn
trong luyện ngục chưa?...Tôi có đủ ḷng
thương đối với những linh hồn khốn
khổ ấy không?...Tôi có cầu nguyện cho Đức
Thánh Cha, Giáo Chủ, để Thiên Chúa làm cho Ngài cai quản
Giáo Hội cho nên?...Tôi đă cầu nguyện cho các Giám Mục,
các linh mục dâng ḿnh cho ơn cứu rỗi các linh hồn?...
d) Với sự phó
dâng trọn vẹn: Tôi đă hành hạ ḿnh với đủ
ḷng thành kính để có được ơn hối cải
của các linh hồn, nhất là với những linh hồn
mà tôi có tương quan hơn cả, và được phó
thác cho tôi cách đặc biệt ?...Tôi đă có niềm
hăng say biến vua David nên đớn đau khi thấy
những người tội lỗi?...Tôi đă cố gắng
đủ để tuân theo những ǵ một linh hồn cầu
xin như ḷng tốt, sự ân cần, những
phương cách tốt để hối cải. Nhưng
mà tôi không đạt được v́ không đủ can
đảm trở thành người xứng đáng nhất
bằng chính ḿnh.
Chương
VII: Khao khát sự toàn thiện
Cha
d'ALZON đă sống trong niềm say mê ba mặt của t́nh
yêu; Ngài phân biệt rơ những hiệu quả thực tiễn
của mỗi mặt. T́nh yêu nhằm đến sự
tương đồng: Chúa chúng ta, Đức Tŕnh Nữ,
Giáo Hội nhắc nhở chúng ta luôn: Hay là người toàn
thiện như Cha anh em trên trời là Đấng toàn thiện.
Chương cuối này như phần kết luôn cho phần
đầu của DIRECTOIRE.
Hiệu
quả ba mặt trong t́nh yêu : Ta ước ao là người
dễ chịu cho người ta yêu. Nếu tâm hồn tôi trọn
vẹn thuộc về Chúa, tôi phải ao ước làm
đẹp ḷng Người, và ao ước ấy phải
giống như t́nh yêu của tôi đối với Người.
Vậy mà, điều Người mong muốn nhất là
tôi trở nên thánh. Vậy nếu tôi chỉ có mong ước
nhỏ bé trở nên toàn thiện, đó là v́ tôi yêu Người
quá ít.
Ư tưởng về sự toàn thiện
ấy, tôi t́m thấy trong chính Chúa, Đấng duy nhất
toàn thiên bởi sự hoàn hảo tuyệt đối, và
Chúa chúng ta muốn tôi bắt chước khi Ngài phán bảo
: " Hăy toàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng
toàn thiện ". Bản tính loài người rất thánh của
Đấng Cứu Độ cũng là mẫu mực của
tôi. Cuối cùng, Mẹ Maria đă được ban cho tôi
để tôi bắt chước Mẹ. Bao giờ th́ tôi thực
hiện nghiêm túc việc ấy ?...Đời sống tu sĩ không phải là con đường
của sự toàn thiên hay sao ?...
Tôi có ư tưởng xác thực nào
về sự toàn thiện mà Chúa chờ mong nơi tôi ?...Tôi
có học hỏi sự toàn thiện mà tôi phải hướng
đến, trong cả những sự toàn thiện của
Thiên Chúa, và của Con Thiên Chúa, trong cả những nhân đức
của Mẹ Maria ?...Tôi có ư tưởng xác thực về
tất cả những bổn phận của ḿnh xét theo mỗi
chiều hướng ?...Trái lại, không phải tôi là một
tu sĩ lạnh nhạt, lười biếng, uể oải
ư ?... Tôi có lắng nghe tiếng ḷng trách những lơ
là triền miên ấy không ?...Tôi có phủ nhận những
ǵ cản trở tự do tâm hồn tôi không ?...Tôi có tránh những
rào cản sự thăng tiến thiêng liêng của tôi ?...Những
cản trở ấy, tôi có t́m biết không ?...Tôi có một
lần nhất định tiến hành việc đó không
?...Phải chăng tôi chưa hề bắt đầu t́m
hiểu ǵ cả về những cản trở ấy !...
Sự
toàn thiện và sự nhiệt thành tín thác : Cảm giác về
tính toàn thiện và về sự nhiệt thành tín thác nói cho
cùng chỉ là một mà thôi. Tôi chớ nhiệt tâm, hăng
say v́ việc thiện ?...Tôi có sẵn sàng hy sinh tất cả
để đạt đến sự toàn thiện Thiên
Chúa muốn cho tôi ?
Nếu tôi không thể hy sinh nhiều
lúc ban đầu, không phải tôi có thế luôn tập từ
từ và xứng đáng nhờ thiện ư ban đầu mà
Thiên Chúa tăng thêm sức mạnh và ban cho thiện ư ấy
chiến thắng trọn vẹn bản tính và những ghê
tởm của nó ?
PHẦN HAI : CÁC NHÂN ĐỨC
Cha d'ALZON
gắn với những nhân đức nảy sinh trực
tiếp từ ḷng mến yêu Chúa, Thánh Nữ Đồng Trinh,
và Giáo Hội đ̣i hỏi trước hết nơi các
tông đ̣. Đời sống người tu sĩ Ḍng Mẹ
Về Trời triển nở nhờ ba mặt của t́nh
yêu là một đời sống v́ Chúa. Ta hiệp thông với
Chúa và phục vụ Chúa nhờ đức tin, niềm hy vọng
và đức ai. Mỗi nhân đức ấy được
kèm theo những nhân đức phụ, mang đặc thù ki
tô giáo, được ban cho ta hoàn toàn trong công cuộc thánh
hóa con người và công việc tông đồ.
Chương một : VỀ ĐỨC
TIN
Đức tin liên quan đến
t́nh yêu Thiên Chúa trở nên nổi bật. Niềm hy vọng,
đức ái nảy sinh từ đức tin, như t́nh yêu
Mẹ Đồng Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội,
Hiền thê của Người nảy sinh từ t́nh yêu
Thiên Chúa. Đức tin xét về mặt nhân đức là
đặc tính đầu tiên trong tinh thần Ḍng Mẹ Về
Trời.
Nhờ đón nhận đức
tin mà tôi tin những ǵ Giáo Hội dạy phải tin, bởi
v́ chính Thiên Chúa là sự thật không sai lạc đă mạc
khải những điều ấy.
Đức tin dẫn
Chúa Giê Su đến trong tôi : Một mặt nào đó, Chúa
Giê Su, tác nhân và Đấng hoàn mỹ đức tin của
tôi, không thể là mẫu mực trong thực hành về
đức tin ? Nhưng tôi có Mẹ Maria là người
đă xứng đáng làm Mẹ Thiên Chúa nhờ hành vi đức
tin cao cả nhất mà một tạo vật có thể làm
được, khi Mẹ cộng tác hết sức ḿnh với
mầu nhiệm nhập thể. Đức tin có khơi ra
trong tôi một mầu nhiệm tương tự.
Đâu là đối
tượng của đức tin tôi ?...Không phải là sự
thật Thiên Chúa sao ? Không phải là nhờ ánh sáng Chúa Giê Su
Ki Tô, Ngôi Lời Vĩnh Cửu, Sự thật vô song mà tôi
tin sao ?...Tội lỗi kéo Chúa Giê Su Ki Tô về trong tôi nhờ
đức tin ; nhờ đức tin, Người hiện
diện trong ḷng tôi, theo ư muốn của thánh Tông đồ
: " Nguyện Đức Giê Su Ki Tô cư ngụ trong ḷng
anh em nhờ đức tin ".
Đâu là sức mạnh
và nguồn năng lực đức tin tôi ? Tôi đă hiểu
hạnh phúc của đức tin và trở nên người
ki tô hữu công giáo không ? Sự thật có giá trị nào
đối với tôi ? Tôi có hiểu rằng nhờ giảng
dạy của Giáo Hội mà tôi nhận biết đúng Thiên
Chúa ? Tôi có thường tỏ ra những hành vi đức
tin vào những mầu nhiệm chính, mà việc suy niệm
tóm lại phải là lương thực hàng đầu cho
linh hồn tôi ? Tôi có cảm tạ Chúa với tấm ḷng biết
ơn sâu sắc đă cho tôi trở nên con cái Giáo Hội công
giáo ? Tôi có t́m hiểu những sự thật đức tin
cho xứng đáng là một tu sĩ không?
Nếu tôi phải giảng dạy
những sự thật về đức tin, không phải
là tôi dùng những suy nghĩ, những tưởng tượng
cá nhân với tư cách là giảng dạy của Giáo Hội,
hoặc bởi tôi gắn bó với những ư tưởng
riêng, hoặc bởi ư tưởng sai lạc của một
số người sùng đạo. Họ là những người
tuân theo những thực hành của Giáo Hội và họ cho
là họ nắm được khoa học về học
thuyết đức tin của Giáo Hội.
Đức tin
đưa tôi vào trong trật tự siêu nhiên : Hiệu quả
đầu tiên của đức tin là mạc khải cho
tôi trật tự siêu nhiên và và đưa tôi vào trong đó nếu
tôi muốn. Đức tin chỉ cho tôi những điều
như chính Thiên Chúa xem thấy và đánh giá, ít ra là những
ǵ có liên quan trực tiếp đến ơn cứu độ
của tôi.
Tôi có t́m cách đánh giá những sự
việc như Thiên Chúa không ? Tôi có t́m cách rút ra những bài học
thực tiễn được bày ra cho ḿnh qua những mầu
nhiệm cao cả trong Ba Ngôi, Nhập thể, Cứu chuộc,
cuộc đời Chúa chúng ta để đem đến một
ư nghĩa cho mọi hành động khi ḥa nhập nó với
Thiên Chúa và với những ư định của Người
Con làm người v́ tôi ? Có lẽ phải hứng chịu
những hậu quả của nền giáo dục ít mang phẩm
chất ki tô giáo, nên tôi xem nhẹ những sự việc hoặc
liên quan đến những sự thật mà Giáo Hội rao
giảng, hoặc liên quan đến những thực hành mà
Giáo Hội khuyên làm, hoặc liên quan đến đồ vật
Giáo Hội tôn thờ ? Những vật có vẻ ít quan trọng
dưới mặt tôi, không phải là tôi nâng cao lư lẽ của
ḿnh ngang tầm với nó sao ? Và không phải là tôi đă chiều
theo những phản bác hay sao ? Cuối cùng, nếu cần
thiết, tôi có thể sẵn sàng đổ máu để
làm chứng về đức tin nơi Chúaa và nơi Giáo Hội,
như các vị tử đạo không ? Và sự kính trọng
tha nhân không phải đă làm tôi hổ thẹn khi có hành vi nào
đó làm tổn thương ḷng tự ái nơi tôi, ngay ở
giữa người anh em, chứng kiến sự gia nhập
của tôi vào đời sống đức tin ?
Chương
II : Đức khiêm nhường
Hai nhân đức phân biệt nhau
trong ánh sáng đức tin
: khiêm nhường và vâng lời. Trong Hội Ḍng Mẹ Về
Trời, ta có cách lắng nghe và thực hành những nhân
đức ấy theo gương mẫu Đức Ki Tô, nền
tảng của đời sống tu sĩ và chỉ ra cho
ta những dấu ấn siêu nhiên.
Thực
hành trong Hội Ḍng : Nhân đức cần thiết nhất
đối với tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời trong mỗi
nhân đức chắc chắn là nhân đức khiêm nhường,
v́ dùng theo lời của thánh Phao lồ : dù kiến thức
có làm ta kiêu căng, ta cũng không thể phủ nhận rằng
ta bị rơi vào những mối nguy lớn v́ những
công việc mà ta sẽ được tuyển dùng. Mối
nguy hại ở ngay trong những việc làm tốt mà ta
được mời gọi để làm, và chính v́ vậy
mà ta phải cố gắng không ngừng mang ư chí thuần
khiết trong mỗi hành vi của cuộc sống nhờ
đức khiêm nhường ; v́ sợ rằng ta đặt
tính tự ái ở địa vị vinh quang Thiên Chúa mà ta phải
t́m kiếm. Ta sẽ không ngừng hướng tâm tư ta về
với Đấng là nguyên thế và cũng đích của
mỗi cử động nơi ta, v́ e sợ chỉ t́m phần
thưởng cho hành động nào đó trong sự thánh hóa
con người ta. Hành động ấy có thể tự nó
là hành động tốt, nhưng ta chưa hướng
đủ về với Chúa.
Nguyên tắc
đời sống tu sĩ của ta : Đức khiêm nhường
tháo gỡ ta khỏi ư muốn riêng tư, v́ sợ rằng
ta sẽ không lắng nghe được lời đáng sợ
này : " Này đây trong những hy tế của
ngươi tồn tại ư muốn của riêng
ngươi ", quá gắn bó với vật chất bởi
sự kết hợp cá nhân, thay v́ chỉ gắn bó duy nhất
làm đẹp ḷng Chúa.
Đức khiêm nhường sẽ
là căn nguyên của đức vâng lời, đủ những
hy sinh đ̣i hỏi ta có khó khăn đến mấy, v́ sự
ngờ vực về chính ta sẽ cho ta hiểu nhu cầu
cần được dẫn dắt, và cảm giác về
sự yếu đuối sẽ nảy sinh trong ta một sự
tin tưởng lớn mạnh hơn nơi Thiên Chúa.
Đức khiêm nhường sẽ
là căn nguyên để mở của tâm hồn với Các
Vị Bề Trên trong việc tra xét lương tâm, trong việc
thú nhận lỗi lầm, cấm giờ, nhọc nhằn,
nhu cầu, mọi bệnh tật trong con người.
Đức khiêm nhường sẽ giúp ta chấp nhận mọi
mệnh lệnh, mọi công việc thấp hèn và những
t́nh huống đáng khinh thường nhất. Đức
khiêm nhường sẽ làm cho ta kính trọng, đón nhận
những nguyên tắc áp dụng trong cộng đoàn, ngay cả
khi ta không hiểu được những nguyên tắc ấy.
Đức khiêm nhường sẽ giúp hạn chế miệng
lưỡi của ta, sẽ tạo nên tính nghiêm trang
tương xứng với một vị tu sĩ. Đức
khiêm nhường sẽ là căn nguyên của đức
khiêm tốn phải có trong tương quan với những
người anh em và với đồng loại.
Cuối cùng, đức khiêm
nhường sẽ giúp người tu sĩ chấp nhận
sự khinh thường t́nh yêu (của người khác)
đối với Chúa chúng ta, Đấng đă chịu bao
nhiêu điều xỉ nhục. Và đức khiêm nhường
sẽ ban thêm sức mạnh cho người tu sĩ trở
nên một cộng sự biết vâng nghe, sẵn sàng với
mọi điều thiện hảo làm triển nở
Nước Thiên Chúa, giữa bàn tay Thiên Chúa và bàn tay của
những người đại diện Ngài.
Đức khiêm
nhường nảy sinh từ đức tin và chỉ cho
tôi :
a) Sự
hư không nơi tôi : Đức tin chỉ cho tôi nhận
thấy trong ánh sáng rằng Thiên Chúa là tất cả và tôi chỉ
là hư không. Chính Thiên Chúa là nguồn dư đầy của
hữu thể, và của chính tôi. Tôi không là ǵ cả. Càng t́m
cách hiểu biết Thiên Chúa nhờ đức tin, tôi càng mệt
mỏi bởi vinh quang cao cả của Người, và so
sánh với Người, tôi lại càng thấy ḿnh là người
hư không hơn nữa, tôi có thể khẳng định
như vậy.
Tin tưởng với cái nh́n ấy,
vậy đâu là chỗ của tính kiêu căng ? Tôi không biết
ǵ cả. Và chính v́ sự vô tri ấy mà sự kiêu căng
nơi tôi trở nên khó chịu hơn, hoặc là từ thỏa
măn nơi chính nó hay nó t́m sự tán thành và hoan nghênh nơi
người khác, hoặc là nó tự tuân theo những đ̣i
hỏi tự nó đặt ra hay là theo tính nhảy cảm của
riêng nó, hoặc là nó tự khép ḿnh trong đơn độc
và cái bóng ích kỷ của nó.
Nếu Chúa là tất cả, tôi chẳng
là ǵ. Tôi phải kết hợp mọi sự với Chúa và
không nên tôn vinh ǵ nơi tôi. Thế nhưng, tôi là người
kiêu căng, khoe khoang, hay đ̣i hỏi, dễ mất mặt
mặt; và nếu tất cả những tính t́nh ấy không
thể hiện cùng một lúc trong tôi, hoặc tôi khám phá từ
từ, hoặc linh hồn tôi đặc biệt bị
giơ bẩn bởi một trong những tính t́nh ấy.
b) Tội
lỗi tôi : Nhưng tôi không chỉ là hư không bởi nguồn gốc,
hữu thể tôi c̣n bị giơ bẩn thêm do tội lỗi.
Tội lỗi đă đặt vào trong hữu thể mà
Thiên Chúa đă ban cho tôi, sự đảo lộn hoàn toàn ngoài
ư muốn của tôi. Là người tội lỗi, tôi chỉ
xứng với cơn thỉnh nộ và h́nh phạt của
Thiên Chúa v́ sự công minh của Người. Thiên Chúa đă
thứ tha cho tôi, đă tẩy rửa tôi trong máu của
Người Con, và với sự trao đổi ân huệ vô
tường ấy, tôi phải tranh đấu mỗi ngày,
v́ tội lỗi của ḿnh, tôi là một quái vật phản
loạn.
Hư không, tội lỗi, vô
ơn, đó là định nghĩa đúng nhất về
tôi đối với Thiên Chúa.
Kiểm
điểm bạn thân : Khi trở về trong chính ḿnh, ít ra tôi có
biết cảm nhận thấp bé, đứng vững ở
địa vị ḿnh, hổ thẹn về trạng thái con
người tôi không ? Tóm lại tôi có khiêm nhường không
? Tôi có hiểu biết rằng v́ những lỗi lầm,
v́ thiếu ḷng biết ơn, tôi mắc nợ cái ǵ đó ở
sự công chính và ở t́nh yêu Thiên Chúa bị xúc phạm ?
Tôi có biết hạ thấp ḿnh không ? Tôi có biết hổ
thẹn về tội lỗi ḿnh không ? Tôi có biết đứng
trong vị trí của ḿnh là chỗ sau hết không ? Chúa Giê
Su Ki Tô, để phá đi tính kiêu căng nơi tôi, đă
muốn gánh chịu tất cả mọi lăng nhục.
Tôi làm ǵ để bắt chước Thầy tôi ? Tôi có chấp
nhận những va chạm không tranh nổi trong ḷng tự
ái không ? Tôi có chấp nhận những nhục nhă ? Tôi có t́m
những nhục nhă để phá tan những kiêu hănh nơi
tôi ? Tôi có thích những giải pháp làm tan biến đi tính
kiêu căng ? Là người hay đ̣i hỏi, tôi co ư thức
được rằng ḿnh chẳng có quyền ǵ ? Là
người hay giữ bí mật trong ḷng, tôi có nhận rơ những
ǵ làm tôi tức giận không ? Là người ích kỷ, tôi
có nhất trí rằng tất cả không phải là của
tôi ?
Một lần nữa, tôi có phải
là người khiêm nhường ? Tôi có thực hành đức
khiêm nhường ? Tôi có tiếp nhận những lăng nhục
để bắt chước đức khiêm hạ của
Chúa Giê Su?
Chương III: Đức vâng lời
Thực
thi đức vâng lời trong Ḍng Mẹ Về Trời theo
gương mẫu Đức Ki Tô: Nếu v́ tự trao ban
vật ǵ bởi ḷng nghèo khó, trao ban thân ḿnh và những giác
quan ḿnh bởi ḷng khiết trinh, người đó trao ban
trọn vẹn chính ḿnh nhờ đức vâng lời.
Đó là nhân đức mà lời khấn hứa là sợi
dây của đời sống tu tŕ. Nhân đức ấy
ḥa biến sự hy sinh cả con người cách trọn vẹn.
V́ vậy, phải t́m căn nguyên của nó ngay trong ḷng mầu
nhiệm Ba Ngôi, đang tôn thờ và trong sự vâng lời
đời đời của con Thiên Chúa, Ngôi Lời không phải
tạo thành, theo ư muốn Thiên Chúa Cha.
V́ thế Chúa Giê Su Ki Tô đă muốn
được gọi là Con Chiên bị hiến tế ngay từ
lúc khai sinh của thế giới. Người cho biết
rơ là muốn những ǵ Cha Ngài muốn, rằng luật của
Ngài được ghi khắc trong sâu thẳm tâm hồn
Ngài : " Con t́m theo thánh ư Ngài, Lạy Chúa, và thánh chỉ
Ngài ở trong trái tim con ".
Chính v́ điều đó mà thánh Phao
Lồ dạy ta và Giáo Hội luôn nhắc nhở lại
trong kinh nguyện tuần thánh rằng Chúa Giê Su Ki Tô đă
làm người v́ chúng ta và đă vâng lời cho đến
chết và chết trên tháp giá.
Để sự vâng lời của
chúng ta được Thiên Chúa đón nhận, đó phải
là sự vâng lời khiêm nhường, hiền ḥa, mau lẹ,
trung tín, không độ lượng và không nhát hèn.
Kính trọng
những giới luật của Thiên Chúa mạc khải nhờ
đức tin : Đức tin là hành vi tuân phục của tâm trí theo sự
thật được Thiên Chúa mạc khải. Nhưng khi
dạy ta những ǵ phải tin, đức tin cũng dạy
ta những ǵ phải thực hành. Khi chỉ ra cho ta những
quan hệ giữa Chúa và ta, đức tin c̣n chỉ cho ta những
bổn phận đối với Chúa. Nếu Chúa là Thầy
tối cao của vạn vật, nếu ta là những tôi tớ
của Ngài ; nếu nhờ hồng ân, ta trở nên con cái
Người. Vậy với hai chức dành do, ta phải gắn
bó tuyệt đối với Người.
Những sự nhiệt thành của
ta muốn chứng tỏ cho Người sự tuân phục
ấy có thể vượt ra ngoài những mệnh lệnh
của Người. Ta có thể t́m kiếm những khao
khát của Người và biến nó trở thành thánh chỉ
cho ta. Đức vâng lời mang đặc tính về sự
toàn thiện, t́nh yêu được thể hiện qua lời
tuyên khấn: Đó là sợi dây đầu tiên của đời
sống tu sĩ. Đức vâng lời hiểu theo nghĩa
ấy là sự hy sinh của ư muốn riêng mà tôi từ bỏ
để chỉ thực thi ư Chúa vốn được tỏ
hiện cho tôi qua các Bề Trên của tôi.
Tra vấn
lương tâm : Tôi khấn hứa đức vâng lời ; tôi đă
hoàn thành lời khấn hứa ấy ra sao đến giây
phút hiện tại?...ư muốn của tôi có được
hy sinh trọn vẹn không ? Phải chăng tôi vâng lời một
cách không hạn chế và không suy nghĩ kỹ ? Phải
chăng tôi không thường xuyên tra vấn chính ḿnh về
quyền bính qua các Bề Trên, về sự lạm dụng
quyền hành của họ ? Tôi có cuốn theo những phán
xét của tôi, ngay cả trong luật phép ? Không phải là thỉnh
thoảng tôi thảo luận với các anh em khác về những
hành vi của quyền hành? Tôi có tuân phục vị Bề
Trên mà các Vị Bề Trên chọn lựa cho tôi? Tôi có tuân phục
những việc làm được giao phó cho tôi, vượt
ngoài khả năng của tôi? Tôi có noi theo tư thế sẵn
sàng của Mẹ Maria: " Này đây tôi là tôi tá Chúa, nguyện
được làm theo như lời Ngài phán".
Trong những cám giỗ chống lại
đức vâng lời, tôi có nhớ rằng Đức Giê
Su Ki Tô, vốn là Thiên Chúa, đă vâng theo Cha Ngài, và Ngài đă
vâng lời cho đến chết, và chết trên tháp giá,
trong khi Ngài không bắt buộc phải làm việc đó ?
Tôi có tin rằng tôi chỉ phải
tuân theo mệnh lệnh rơ ràng, nhưng tôi quên rằng sự
vâng lời thật chấp nhận những chỉ dẫn
tối thiểu nhất ? Trái lại, không phải là tôi lặp
đi lặp lại một ư nghĩ ? Hoặc là tôi lạc
lỏng trong giải thích để đạt được
điều cho phép mà người khác không muốn ? Không phải
là tôi đă đi loanh quanh, hay căi lại những mệnh lệnh
được ban bố cho tôi, hay là cứ phê b́nh nong cạn
một đoạn Luật Ḍng nào đó?
Chương IV : Hy
vọng
Hy vọng, nhân đức trung gian,
như Mẹ Maria là Trinh Nữ trung gian, giựa theo sự
toàn nặng nhân từ của Thiên Chúa. Hy vọng nâng đỡ
chúng ta trong mọi thử thách và bảo đảm chúng ta
những trợ cứu của hồng ân có khi tiềm thức
chúng ta không biết đến.
Hy
vọng là nhân đức nhờ đó ta có sự tin tưởng
vững chắc, theo những công trạng của Chúa Giê Su
Ki Tô. Sử dụng tốt những hồng ân Thiên Chúa ban
trong cuộc sống này, ta sẽ c̣n có măi trong sự sống
đời sau.
Thực
hành nhân đức hy vọng trong Hội Ḍng : Chúng ta chỉ
đặt tin tưởng nơi một ḿnh Chúa, không bao giờ
nơi những phương thế loài người. Sự
nghèo khó nơi Tin Mừng sẽ là, đối với ta,
như là bằng chứng khách quan
cho việc thực hành niềm hy vọng. Chúng ta cũng
rút ra được nơi đó tinh thần khiêm nhường
thật sự, tức là sự coi thường và khinh dễ
chính bạn thân ta ; cuối cùng, ta rút ra được tinh
thần cầu nguyện, nhờ đó ta sẽ cầu xin
những hồng ân cần thiết để hoàn thiện
thánh chỉ của Chúa và những khuyên răn của Ngài.
Ta vững tin rằng những ǵ không thuộc về Thiên
Chúa và không dẫn về Thiên Chúa th́ không xứng với ta.
Những
hiệu quả đặc biệt hơn : Niềm hy vọng
thực hành như vậy sẽ linh hứng cho ta có sự
biết ơn sâu sắc nhất đối với những
hồng ân Thiên Chúa, linh hứng ta nhớ măi những lời
của thánh Tông Đồ kêu mời ta cảm tạ Chúa về
những ǵ đến với ta : " Hăy cảm tạ Chúa
v́ mọi sự ".
Với ta, niềm
hy vọng sẽ là căn nguyên cho sự tin tưởng tuyệt
đối đối với Thiên Chúa trong mội thử
thách. Chính trong lúc khổ nạn, Người nói với các
Tông Đồ : " Mong ḷng anh em dừng xao xuyến và đừng
sợ hăi : Anh em tin vào Thiên Chúa, th́ cũng hăy tin vào thầy ".
Dù thử thách nào đến với ta, ta luôn tin tưởng
rằng Ngài sẽ không từ bỏ ta, miễn là ta trung
thành với Người, v́ chính Người đă hứa sự
bách hại cùng lúc với chiến thắng : " Nếu
người ta đă bách hại Thầy, người ta cũng
sẽ bách hại anh em. Trên thế gian, anh em sẽ lo buồn,
nhưng hăy tin tưởng ! Thầy đă chiến thắng
thế gian".
Những khuynh
hướng mà niềm hy vọng dơi bước chúng ta:
Trong mọi sự, các tu sĩ của tiểu gia đ́nh ta
cần nhớ:
1. Đừng bao giờ
cầu xin ǵ mà không hướng về vinh quang cao cả nhất
của Thiên Chúa.
2. Trong những thử
thách Thiên Chúa gửi đến ta, đừng bao giờ cầu
xin được cất đi khi nào mà sự giải thoát
đó sẽ góp vào sự triển nở lớn lao nhất
của Nước Chúa Giê Su Ki Tô
3. Khi t́m cách vượt
qua những thử thách tạm bỡ, các tu sĩ hăy chỉ
đặt ra tính hoạt bát đối với việc phục
vụ Thiên Chúa mà ḿnh đă hoàn toàn và tuyệt đối tận
hiến.
4. Các tu sĩ nhớ
rằng nếu Chúa Giê Su đă cứu thế gian nhờ cây
thấp giá, đó là v́ trong t́nh yêu thập giá mà các tu sĩ
phải t́m được ích lợi, sức mạnh và sự
nghỉ ngơi.
Cuối cùng, các tu sĩ hăy sâu lắng
tin tưởng rằng những thử thách của họ
không là ǵ so với những thử thách mà Chúa Giê Su đă chịu,
và rằng nếu họ yêu mến Thầy nhân lành ấy, họ
phải quên đi khó nhọc riêng của họ, khi đối
diện với những nhọc nhằn mà Người
đă chịu, và Giáo Hội, là Hiền Thê của Người,
mỗi ngày hướng về những khó nhọc ấy.
Hơi giống như đứa trẻ đâu nhè nhẹ sớm
quên cơn đau đó đi, để chỉ quan tâm đến
người mẹ bỗng dưng ôm chặt lấy nó.
Chính trong t́nh cấm ấy mà rèn luyện để quên
đi chính ḿnh, các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời sẽ
hiến dâng cho Chúa hiện diện trong nhà tạm, tâm hồn
và sức mạnh chịu đựng, tránh những ǵ xúc phạm
đền Chúa và phản lại Giáo Hội.
Thiên Chúa: đối
tượng trước tiên của hy vọng: Niềm
hy vọng chỉ cho ta thấy Thiên Chúa là cứu cánh của
những nỗ lực của ta. Giựa vào riêng ḿnh, ta
không thể đạt được Người; hồng
ân Thiên Chúa góp công vào việc ta đạt được mối
tương quan sở hữu Người. Thiên Chúa, lợi
ích cao cả mà ta hướng tới nhờ sự khát khao
hạnh phúc phú bẩm trong ta. Ngay cả khi ta không biết
Người, Thiên Chúa muốn trao ban cho ta như là phần
thưởng: "Ta sẽ là phần thưởng dồi
dào cho con". Đức tin chỉ cho ta Thiên Chúa là, cho ta thấy
điều ta là nhờ Người. Niềm hy vọng chỉ
cho ta thấy nguồn của mọi phú quí và mọi sự
toàn thiện, của thẩm mỹ vô tận, của sự
chói lọi nói vinh quang vĩnh cửu, căn nguyên của mọi
niềm vui, vực thẳm của t́nh yêu, như là cứu
cánh của mỗi công lao chúng ta.
Hồng ân : đối
tượng thứ hai của hy vọng : Tôi không chỉ
có thể sở hữu Thiên Chúa, nhưng c̣n phải hy vọng
sở hữu Người một ngày nào đó, nếu tôi
muốn dùng những phương tiện mà Người ban
nhờ ḷng nhân hậu để đến được
với Người. Bởi riêng tôi th́ không thể
được, nhưng tôi có thể làm tất cả nhờ
Đấng ban sức mạnh cho tôi nhờ hồng ân. Hy vọng
trông cậy vào hồng ân mà Chúa Giê Su Ki Tô đă hứa ban.
Tôi không thể làm ǵ nếu không có hồng ân. Nhờ hồng
ân, tôi có thể trong tất cả mọi sự. Từ
đó phát sinh hai hiệu quả thực tiễn rất quan
trọng:
1. Nếu tôi không thể làm ǵ khi
không có hồng ân, tôi là kẻ tự phụ khi tôi hy vọng
có thể thực hiện cái ǵ đó bằng chính khả
năng cá nhân tôi. Hồng ân thôi cũng đủ với
tôi. Nhưng tôi cần hồng ân. Tôi phải gắng hết
ḿnh để lôi cuốn hồng ân về với ḿnh. Tôi phải
trông cậy vào hồng ân suốt cuộc đời
tôi.
2. Nếu tôi có thể
làm tất cả nhờ hồng ân, tôi là kẻ ngư dân và
kẻ vô ơn nếu tôi để cuốn theo sự chán
năn và thất vọng. Thiên Chúa ở với tôi, tôi c̣n sợ
ǵ ai ? Tôi không được phép để sự chán năn và
thất vọng xâm chiếm trái tim tôi.
Những điều
thoát ra từ cái có trước, đó là tôi phải có
ḷng kính quí hồng ân mà những lao công vô tận của
Đấng Cứu Độ đạt được
trên tháp tự giá. Hồng ân là cái giá phải trả bằng
máu Người, là cái giá từ trời ban cho tôi. Nếu tôi
sử dụng hồng ân để hoàn thành những ư định
của Người trên tôi, không ǵ là cao quí hơn nữa
đối với tôi ở hạ thế này. Tất cả
đến với tôi nhờ hồng ân. Đó là kho tàng của
tôi ở trần gian này, cũng như Thiên Chúa là kho tàng của
tôi trên trời.
a) Tra vấn
lương tâm : Về Thiên Chúa : Đối tượng hy vọng
trước tiên của tôi : Niềm hy vọng có kết gắn
vào trong tâm hồn người tu sĩ nơi tôi không ? Tôi có
khát khao Nước Trời không ? Có phải khát khao duy nhất
của tôi là sở hữu Thiên Chúa trong tương quan với
Người ? Tôi có gắn bó đủ để hiểu rằng
Thiên Chúa là lợi ích duy nhất, sẽ chia duy nhất của
ḿnh đến muôn đời ; rằng nếu tôi gắn bó
với một vật nào đó trên trần gian không nhằm
đến Thiên Chúa, điều đó có nghĩa là tôi
đang đi ngược lại mục đích của tôi
?
Tôi có hiểu được sự
điên rồ khi để tạo vật nào đó chiếm
lấy trái tim tôi ở hạ giới này. Tôi có hiểu rằng
những ǵ thiết chặt tôi với trần gian là sợi
dây cản trở tôi hướng về Nước Trời
? Đă bao giờ tôi chỉ đặt hy vọng vào Chúa mà
thôi ? Đă bao giờ tôi cầu xin ơn Chúa ? Đă bao giờ
tôi tín thác vào hồng ân Người ? Không phải là đôi
khi tôi đă mang tính tự phụ? Trong ḷng tôi, không phải
là tôi đă tự cho ḿnh là tốt ? Chắc hẳn, tôi
đă nói to những lời về đức khiêm hạ,
nhưng trong ḷng tôi đâu là cảm nhận về điều
tôi nói ? Tôi đă tự phụ với sức mạnh riêng
tôi, v́ thế Chúa để tôi sa ngă ?
b) Về hồng
ân, đối tượng thứ hai của nó : Tin tưởng!
Mặt khác, tôi có tin tưởng đủ vào hồng ân
không? Bản tính tôi, bị rơi vào chán năn, bị qủi
ma quậy phá, đă thường khiến tôi cho rằng tôi
không c̣n có thể ǵ nữa, rằng tôi đă quá lạm dụng
hồng ân, rằng Thiên Chúa không ban hồng ân cho tôi, rằng
Người không ban cho tôi dư giă. Với những ư nghĩ
sai lạc này, không phải là tôi bị rơi vào trong vực
thẳm của thất vọng sao?
Tra xét: Cuối cùng, tôi có
đón nhận hồng ân với tất cả sự tôn
kính ? Tôi có khinh dễ hồng ân? Tôi có thấy hồng ân
đ̣i hỏi tôi quá ? Không phải tôi bị phân tán trong lúc
đọc sách, suy niệm, rước lệ ? Không phải
là tôi thấy sẽ phải đi quá xa, nếu làm theo ư muốn
của ân sủng sao? Không phải tôi đă run sợ v́ biết
bao hy sinh tôi sẽ phải làm, một khi ân sủng chiếm
lấy tôi hoàn toàn ?
Từ bỏ : Hôm nay tôi đang ở
mức độ nào đối với tất cả những
điều ấy ? Rút cục, phải chăng tôi đă giải
thoát được mọi cản trở đối với
hành động của ân sủng trên linh hồn tôi ? Rút cục,
phải chăng tôi cho rằng, khi Thiên Chúa trao ban chính
Người cho tôi để trở thành hạnh phúc triền
miên của tôi, và rằng Chúa Giê Su Ki Tô, để giúp tôi có
được hạnh phúc ấy, ban tặng ân sủng
Người phải trả bằng máu. Ít ra, cũng v́ vậy
mà tôi quyết tâm phó thác chính ḿnh không chút do dự vào những
đ̣i hỏi rất thánh của ân sủng, trong niềm hy
vọng được ân sủng đền đáp ?
Chương V : Cầu nguyện
Cầu
nguyện là tiếng van xin của niềm hy vọng. Nếu
chúng ta không thể làm ǵ khi không có ân sủng, ân sủng
được bảo đảm trong cầu nguyện và
ân sủng khai mào lời cầu nguyện không bao giờ bị
chối từ : cầu nguyện là vũ khí tiêu biểu nhất.
Thực
hành trong Ḍng : Đời sống các tu sĩ Ḍng Mẹ Về
Trời sẽ là một đời sống kinh nguyên và tĩnh
tâm trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Cầu nguyện
phải là vũ khí tiêu biểu nhất của các tu sĩ
để xua đuổi những cám giỗ, đánh đuổi
kẻ thù của ơn cứu độ, để chiến
thắng mọi cản trở đối với những
việc lành. Các tu sĩ của ḍng phải nhận thấy
vui sướng thăng tiến trong đời sống nội
tâm. Cầu nguyện là phương thức chính của sự
thăng tiến ấy. Các tu sĩ sẽ không ngừng
bước đi trong sự hiện diện của Thiên
Chúa để trở nên hoàn thiện. Cảm nhận về
sự hiện hữu của Thiên Chúa sẽ là căn nguyên
của việc tĩnh tâm và ḷng khiêm tốn nơi những
người tu sĩ.
Các tu sĩ sẽ áp dụng cầu
nguyện Thiên Chúa khắp mọi nơi, tri ân Người
về những hồng ân cao cả, hoặc về những
giải thoát khỏi những
x́-căng-đan vây quanh tứ bề. Họ sẽ cầu
nguyện đặc biệt theo ư của Chúa, thấy hạnh
phúc để hiệp nhất những ư nguyện của họ
với những ư nguyện mà Tông Ṭa không ngừng dâng lên
Chúa Cha, thay cho những người tội lỗi. Họ sẽ
cầu nguyện cho những nhu cầu của Giáo Hội.
Và chính trong lời cầu nguyện của những người
con nhiệt tâm mà họ sẽ được thôi thúc đến
ngọn lửa nhiệt thành v́ sự cao trọng của
Nước Chúa Giê Su Ki Tô.
Nếu lời cầu nguyện của
họ được thấm nhuần bởi tinh thần
đức tin tương hợp với các tu sĩ. Họ
hăy bảo đảm rằng việc cầu nguyện sẽ
mạnh hơn mọi phương thế khác của con
người, được linh hứng bởi tinh thần
trong xác thịt. Họ sẽ không làm ǵ mà không cầu khẩn
Thiên Chúa. Nhưng họ cũng nhớ rằng không ǵ lôi kéo
ân sủng từ trời bằng ḷng biết ơn. Họ
sẽ cầu nguyện để cảm tạ Chúa về
những điều tốt lành cũng như những khó
khăn trong cuộc sống. V́ nếu một mặt, tất
cả đều qui về những lợi ích cao cả nhất
của những ai yêu mến Chúa; mặt khác, Thánh Tông Đồ
dạy ta cảm tạ Chúa trong mọi sự: anh em hăy cảm
tạ Thiên Chúa trong mọi sự.
Lời
cầu nguyện theo ánh sáng của niềm hy vọng: Niềm hy vọng
từ trời được giựa trên hồng ân Thiên
Chúa được tiên báo cho ta. Thiên Chúa ban cho ta hồng ân
trước tiên là hồng ân cầu nguyện và Người
muốn ta cầu xin mọi hồng ân ta cần, ngay cả
hồng ân muốn được cầu nguyện tốt
hơn mọi ngày : " Hăy xin và anh em sẽ nhận
được ! ", Chúa phán như thế. Vậy nên ta
phải cầu xin. Càng cầu xin, ta sẽ càng được
nhậm lời, miễn là ta cầu xin tốt. Thiên Chúa
dư đầy hồng ân trong tay. Người chỉ muốn
mở rộng tay ban phát cho ta. Và nếu Người khép bàn
tay, đó là v́ Người tiên đoán rằng v́ ta chưa sẵn
sàng tận dụng tốt những hồng ân Người,
ta sẽ thêm sự vô ơn vào trong vô vàn tội lỗi của
ta, nếu Người ban những hồng ân cho ta. Người
muốn ta khát khao ơn Người. Người muốn
ta khấn xin ơn Người. Người muốn ta ở
trong tư thế sẵn sàng cần thiết để
đón nhận và tận dụng hồng ân Người ban.
Lời nguyền cầu hiểu
như thế là hơi thở của hồn tôi về với
Chúa, tiếng kêu van xin của tôi và tiếng kêu khốn khổ
của tôi. Tiếng kêu ấy xuất phát từ vực thẳm
nhưng tới lời tôi. Tiếng kêu ấy cố gắng
tiến lên ngai ṭa của ḷng nhân từ Thiên Chúa. Lời nguyện
cầu, theo nhăn quan ấy, đ̣i hỏi nhất, nhưng
nó cũng có khả năng mang lấy gánh nặng tội lỗi
và thanh tẩy tôi. Lời nguyện cầu cảm tạ
Thiên Chúa về ơn nhận được để xứng
đáng đón nhận hơn nữa. Lời nguyện cầu
cũng thờ phượng Thiên Chúa tối cao về mọi
điều thiện hảo, về chính Người là nguồn
thiện hảo tuyệt vời nhất. Nhưng theo quan
điểm của niềm hy vọng, mục đích đặc
biệt của cầu nguyện là cầu xin. Tôi phải
phó dâng linh hồn trước Chúa với tâm tư sâu lắng
rằng hồn tôi chẳng là ǵ. Rằng hồn tôi trông chờ
tất cả nơi Chứa. Tâm t́nh ấy làm đẹp
ḷng Thiên Chúa : Người thích nhậm lời tiếng kêu cứu
của người nghèo khó.
Tra xét
lương tâm : Hiện tại, tôi cầu nguyện ra sao ? Tôi có quí mến
hồng ân hơn tất cả mỗi thứ khác, bởi
v́ nhờ hồng ân tối có thể trở nên xứng
đáng sở hữu Chúa ? Tôi có chú tâm đừng để
mất đi những hồng ân đă được ban
cho tôi? Tôi có mang tâm t́nh cầu nguyện với những ư
trong lành cần thiết để lời nguyện cầu
của tôi được đẹp ḷng Chúa? Tôi có thành tâm
ao ước được nhầm lời ? Không phải
là có khi tôi sợ hồng ân và v́ thế tôi sợ cầu xin
hồng ân ? Tôi có cầu nguyện với tấm ḷng bền
bỉ ? Không phải là tôi thường lạnh nhạt, số
sai trong việc cầu nguyện v́ tôi cảm thấy không
được nhậm lời ? Tôi có cầu nguyện với
sự kính trọng đầy đủ ? Không phải là
đôi khi tôi bị lạc lơng bởi trí tưởng tưởng,
hay làm vơi đi ḷng mến cầu nguyện v́ lười
biếng ? Và tôi nhận thấy rất ḱ lạ rằng
Chúa không nhậm lời tôi !
Tôi có khát khao đủ muốn
được có Chúa ? Tôi có khát khao khá lớn mạnh
được hiệp nhất với Chúa, được
có Người trong đời sau ? Tôi có thực thi những
hy sinh phải làm để có được nơi Người
sự trao đổi nội tâm mà Thiên Chúa ban cho những
linh hồn trung tín với hồng ân của Người, và
đó là một trong những cái bảo đảm chắc
chắn nhất cho sự hiệp nhất của tôi với
Thiên Chúa trong đời sau ?
Chương VI Nghèo
khó
Nghèo khó
là sự xác minh cho niềm hy vọng. Nó làm ta không
vương vấn cơi trần. Nó đưa ta vào trong việc
phục vụ người nghèo theo gương Đức
Ki Tô. Nó dẫn ta đến với những người
nghèo bởi họ là những người duy nhất
đón nhận phước lành của Chúa. Nó dẫn ta vào
trong thực hành công việc. Nó tôi luyện các tính cách và bảo
đảm tính độc lập trong hoạt động
tông đồ.
Thực hành trong Ḍng: Sự
giàu sang của gia đ́nh ta phải nhằm vào trong sự
tách ĺa tuyệt đối những của cải trần
gian: Chúa chúng ta đă dạy: "Chim trời có tổ, con
chồn có hang, nhưng con người không có chỗ tựa
đầu". Chúng ta sẽ hổ thẹn v́ những hy
sinh vô dụng cho thân thể. Chúa chúng ta đă không muốn
nêu gương về những việc hèn hạ thân xác cách
thái quá theo bề ngoài, trong thời gian hoạt động
rao giảng. Ít ra, chúng ta cũng t́m cách bắt chước
Người về sự nghèo khó trong mọi sự. Chúng ta
sẽ rất khắt khe với thời gian biểu v́ chính
lí do đó. Chúng ta là những người nghèo cần phải
làm việc để sinh tồn.
Sự
nghèo khó theo ánh sáng của niềm hy vọng: Ước muốn
có được Thiên Chúa phải làm tôi khinh dễ những
ǵ không phải là Người, hoặc không liên quan đến
Người. Tôi có thể tách trái tim ḿnh khỏi của cải
trần gian và hưởng thụ, nhưng từ chối
dù là cái ǵ và thánh hóa việc ấy bằng lời khấn hứa
đức khó nghèo c̣n là việc làm hoàn thiện hơn. Thành
ra, tôi không thể có ǵ trừ khi các Bề Trên cho phép. Và hoặc
là tôi đă đem lại cho Hội Ḍng số tiền
đáng kể, hoặc là tôi đă dâng toàn vẹn con người
và công việc ḿnh cho Hội Ḍng. Tôi không sở hữu riêng
ǵ cả.
Nếu tôi là một tu sĩ tốt,
sự nghèo khó này phải làm tôi vui vẻ. Không chỉ tôi phải
thực hành đức nghèo khó ấy theo Luật Ḍng đề
ra, mà tôi c̣n được phép mang trong ḿnh đến
nơi nào mà t́nh yêu dành cho Thiên Chúa linh hướng tôi. Không
ai có thể phục vụ hai chủ. Sự khước từ
của cải trong tâm hồn sẽ là phương kế tốt
nhất để Thiên Chúa ngủ sâu hơn nữa trong hồn
tôi. Chính tôi phải nh́n xem tôi là người nghèo khó ở mức
độ nào.
Không phải đôi khi tôi tiếc
nuối ít nhiều sự thích thú mà của cải mang lại
? Không phải tôi thích thú một vật dù là nhỏ lí tí ?
Tôi có tách rời tất cả không ? Không phải là tôi để
một số khát khao hay một số luyến tiếc về
những ǵ không c̣n nữa được h́nh thành trong tôi ?
Tôi có trở nên một với Chúa Giê Su nghèo hèn trong hang
đá Bethléem, nghèo hèn trong lao nhọc ở Nazareth, không có một
ḥn đá để gối đầu trong cuộc đời
công khai ? Sự nghèo khó rất thánh của Thầy có cuốn
hút tôi, có đem lại cho tôi niềm đam mê trở nên
như Người không ? Bằng tinh thần nghèo khó, tôi bảo
quản như thế nào những đồ vật, sách vở,
quần áo được giao phó cho tôi ?
Khó
nghèo và việc làm : Nghèo khó buộc phải làm việc. Nếu
tôi nghèo khó, tôi phải làm việc để kiếm sống.
Việc làm là một h́nh phạt do tội lỗi, nhưng
cũng là một điều kiện đối với cuộc
đời túng quẫn. Tôi đă sử dụng thời gian
như thế nào ? Với sự chu đáo như thế nào
? Không phải tôi là người lười biếng ư ?
Không phải tôi dễ bị sự lười biếng lôi
kéo trong nhiều lúc ? Chán việc làm không phải đă
thường làm tôi mất thời gian sao. Một ngày nào
đó, tôi sẽ phải tính số như thế nào ? Giờ
đây, tôi muốn sử dụng như thế nào, khi nghĩ
rằng mâtt thời giờ
trong những hội thoại vô ích, hay nói khác đi,
tôi thiếu sự nghèo khó và tôi làm cho các anh em trở nên thiếu
đức nghèo khó ? Theo quan điểm này, không phải là tôi
đưa ra nhiều gương xấu để tự
trách ḿnh, và tôi muốn sửa đổi như thế nào ?
Chương VII :
Đức ái
Đức ái, biến h́nh ảnh
ta giống với Chúa Ki Tô trở nên hoàn thiện hơn
trong ân sủng tuyệt đối về sức mạnh
yêu thương của ta, nhờ liên kết với t́nh yêu Giáo
Hội. Đức ái dưới con mắt của cha
d'ALZON là một mầu nhiệm lớn lao của sự hiệp
nhất. Hiệp nhất của mỗi thành phần của
Thành Thánh ; sự hiệp nhất không thể xóa nḥa giữa
con người với Thiên Chúa ; sự hiệp nhất trọn
vẹn t́nh thân hữu giữa gia đ́nh nhỏ bé của
Ḍng Mẹ Về Trời.
Thực hành trong Hội Ḍng :
Đức ái đặc biệt là v́ chúng ta: t́nh yêu Trinh Nữ,
mẹ Chúa Giê Su Ki Tô và là đâng chuyển cầu đặc
biệt cho ta ; t́nh yêu Giáo Hội, mà mọi lợi ích là của
ta ; tôn sùng các thánh thần, nhất là các thần bảo trợ
anh em, và t́nh thương đối với những linh hồn
được phó thác cho ta.
T́nh yêu tha nhân sẽ được
tỏ hiện bằng sự dịu dàng khi chịu đựng
đớn đâu, bằng tinh thần sẵn sàng phục vụ
người đồng loại theo như ơn gọi của
ta, bởi t́nh thân hữu và ḷng nhiệt thành trong mọi việc,
trong đó chúng ta chịu gánh vác những lợi ích của
các linh hồn.
Cuối cùng, đức ái mạc
khải cho ta tinh thần hiệp nhất mà Chúa đă cầu
xin Thiên Chúa Cha lúc người lập bí tích Thánh thể, khi
người sắp đổ máu v́ ơn cứu độ
muôn người : " Để tất cả nên một.
Để t́nh yêu Cha mà Cha đă yêu con cũng ở nơi họ
và con cũng ở với họ ».
V́ Thiên Chúa là t́nh yêu, theo lời
thánh Gioan. Và ai ở trong t́nh yêu của Người th́ ở
trong Người, ta sẽ không ngừng cầu xin Thần
Khí t́nh yêu bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, kết hiệp chúng
ta nên một với Chúa, với Chúa Giê Su ki Tô, với Giáo Hội,
với anh em và với mọi linh hồn được phó
thác cho tôi bằng một sợi giây không thể chia cắt.
Thiên
Chúa : căn nguyên đầu tiên của bác ái : Tôi không chỉ
phải hy vọng có được Thiên Chúa ; nhưng nhờ
hồng ân Thiên Chúa, tôi phải yêu Người hết linh hồn,
hết sức mạnh và nhờ đức ái, tôi hiệp
nhất với Người. Thiên Chúa là t́nh yêu. Ai ở lại
trong t́nh yêu th́ ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại
trong người đó. Cả cuộc đời tôi là thế
: ở lại trong Thiên Chúa nhờ đức ái.
Bởi chính riêng tôi th́ không là ǵ cả,
tôi không thể làm ǵ cả. Nhưng nhờ hồng ân Thiên
Chúa, tôi có thể làm cho lớn lên những hạn chế
trong trái tim và được như điều Người
đă làm với Salomon. Nơi người này, Thiên Chúa ban
cho trái tim rộng lớn như cát bờ biển. Trái tim
tôi có thể chứa đựng đại dương t́nh
yêu : tôi có thể hiệp nhất với Chúa. Tôi có thể
được ḥa biến, trong hiệp nhất, theo như
lời đă dạy của Đấng Cứu Thế.
Sự hiệp nhất ấy, không
c̣n nghi ngờ ǵ nữa, là mầu nhiệm; nhưng cuối
cùng, nhưng v́ linh mục khi ḥa nước vào rượu,
cầu xin cho ta được tham dự vào bản tính
Thiên Chúa, như Chúa Giê Su Ki Tô gia nhập bản tính loài
người chúng ta. Đó là cái đích tôi phải đạt
đến. Mọi tư tưởng, mọi khát khao, mọi
cảm hứng phải hướng về mục tiêu cao cả
này.
Nếu niềm hy vọng thể
hiện cho tôi Thiên Chúa là lợi ích tối cao, đức ái
thể hiện cho tôi Thiên Chúa là căn nguyên duy nhất của
t́nh yêu tôi. Tôi đă nói với Chúa: " Ngài là Chúa của
con". Chính Người, và điều đó là đủ
cho tôi. Việc tôi sẵn sàng trao tặng cho Người
không là ǵ cả. Và nếu mọi người ki tô hữu
buộc phải yêu mến Thiên Chúa
trên hết mọi sự, th́ đối với người
tu sĩ như tôi, điều đó phải trở thành tôi
tớ của Người bằng việc thánh hiến ! Đó
phải là sự trong sạch của trái tim ! Bởi những
ngọn lửa nào lại không phải đốt lên, và
như thế, tôi lại càng phải sẵn sàng hy sinh những
ǵ không thuộc về Thiên Chúa !
Trái tim tôi có hoàn toàn trong sạch ?
Trong sâu thẳm con người tôi có thực tuyệt đối
được Thiên Chúa sở hữu? Tất cả trong
con người tôi có được đức ái điều
khiển? Đôi khi, không phải là tôi đă dành một phần
trái tim dành cho tạo vật hay sao ? Giữa Thiên Chúa và tôi phải
chăng là không có cản trở nào ?
Cản
trở với đức ái : Tôi nặng phải chết phá hủy
t́nh yêu Thiên Chúa trong con người. Tôi không muốn dừng
lại tại suy nghĩ khủng khiếp rằng tôi
đă phá hủy t́nh yêu Thiên Chúa trong tôi v́ một lỗi lầm
nào đó, nhưng không phải là tôi thường làm cho t́nh
yêu do yêu đắn đo v́ những tội nhẹ. Tôi không
phải tự trách ḿnh v́ một thói quen sai lạc gây
giơ bẩn linh hồn không kém một cách rất nguy hiểm
đối với t́nh yêu mà tôi phải dành cho Thiên Chúa, là tội
nhẹ sao ?
T́nh yêu này là ghen tị. Tôi có luôn uốn
theo những thánh chỉ của t́nh yêu Thiên Chúa ? Tôi đă
không sợ sao? Không phải là tôi đă ẩn náu trong nhiều
lí do để tránh hiểu biết và tránh thực thi mệnh
lệnh của Chúa Thánh Thần trong sâu thẳm hồn tôi ?
T́nh yêu của Thiên Chúa là ngọn lửa
bị tắt đi khi nó không phát triển nữa. Tôi đă
làm cho ngọn lửa t́nh yêu ấy phát triển đủ mạnh
trong tôi chưa ? Tôi có thể nói rằng ngọn lửa ấy
ngày càng lớn mạnh hơn trong tôi ?
Không phải là tôi
đă tuân theo sự phai nhạt có tội ? Sự tôn sùng ban
đầu của tôi ở đâu rồi ? Tôi đă làm ǵ
để ǵn giữ nó, để làm lớn mạnh nó ? Tóm
lại, đối diện với t́nh yêu Thiên Chúa đối
với tôi, tôi có thể nói rằng tôi yêu Thiên Chúa ?
Thực
hành đức ái giữa anh em trong Hội Ḍng : Nếu như
t́nh yêu các linh hồn là một trong những đặc tính
của gia đ́nh nhỏ bé của ta, các tu sĩ phải
yêu thương đặc biệt là các linh hồn của
các anh em trong Ḍng và của các Vị Bề Trên; cũng
như các Vị Bề Trên phải có t́nh thương mến
đặc biệt đối với các tu sĩ được
giao phó cho họ. Mong mọi người áp dụng để
dành cho nhau một t́nh nhân ái tràn đầy t́nh thương
mến, sự quí mến nhau, tôn trọng nhau, tính nghiêm
trang. Mong mọi tu sĩ nhận thấy những h́nh ảnh
sống động của Chúa Giê Su Ki Tô, những đền
thơ của Chúa Thánh Linh, những người con của
Đức Tŕnh Nữ, mẹ chung của chúng ta nơi mọi
thành phần của Hội Ḍng nhỏ bé của chúng ta. Mong
tất cả các tu sĩ tránh xa những sự thân thiện
không phù hợp, mọi t́nh cảm mến thương đặc
biệt bởi đó là 'con sâu' nguy hại đối với
các công đoàn. Tránh mọi ác cảm có thể tháo gỡ những
mối giây liên kết của t́nh thương yêu thánh thiện.
Tránh mọi lời nói làm tổn thương, mối quan hệ
có khả năng sinh ra những căi cọ gây
xí-căng-đan. Khi cần thiết các tu sĩ nên cảnh
báo cho nhau; và ít ra hành động không tỏ ra công khai. Các tu
sĩ nên tránh nhắc lại những ǵ đă thấy và có
thể gây xí-căng-dân. Nếu cần thiết th́ chỉ
có thể nói với những người nên nói để
điều không hay sẽ được sửa đổi
nhanh chóng và cách hiệu quả nhất có thể được;
miễn là đức ái không bị tổn hại quá nặng
nề.
Trong tương quan kế tiếp
với nhau, anh em sẽ nhớ rằng t́nh cảm
thương mến quí hơn cả sau Chúa Giê Su Ki Tô, Trinh Nữ
Maria, Giáo Hội và Đức Thánh Cha, Giáo Hoàng, đó là Hội
Ḍng nhỏ bé của ta. Nhưng phải yêu mến Hội
Ḍng trong Thiên Chúa. Nên tránh thứ t́nh yêu mang tính loại trừ,
thứ t́nh yêu mà chỉ nh́n nhận những ǵ tốt được
làm nơi chúng ta và bởi chúng ta.
Mong trong hội thoại với
nhau, các tu sĩ nói chuyện về những điều hữu
ích và mang tính xây dựng. Hăy tránh những sự khinh thường
nhau, những tranh căi bạo lực, tất cả những
ǵ có thể làm tổn hại đến ḷng khiêm tốn và
những tương xứng trong đời từ. Mong các
tu sĩ không vào pḥng các anh em khác khi không được phép.
Mong các tu sĩ tránh tất cả những ǵ làm khổ tâm
những anh em các nước khác. Cuối cùng, mong các tu sĩ
nói thực về ḿnh điều mà Thánh Thần chứng thực
về những ki tô hữu đầu tiên: Đông đảo
những kẻ tin chỉ có một ḷng, một ư.
Chương VIII:
Tinh thần hy sinh
Đức
ái là ngọn lửa của lễ toàn thiêu nhờ nhiều hy sinh
"Thầy đă nêu gương
cho anh em, để đến lượt anh em, anh em cũng
làm như vậy. Chúa đă phạm lỗi lầm khi
Người sẵn sàng tiến lên đồi Calvaire và hiến
tế ḿnh thập giá v́ con người. Hy sinh ấy không ngừng
được tái tạo lại trên bàn thờ phải là
gương mẫu của tôi. Tôi nên hy sinh v́ Chúa. Những
t́nh cảm mến thương trong ḷng v́ Đấng mà tôi
hy sinh chính ḿnh sẽ vô vị, nếu như tôi không dâng hiến
cả những yếu đuối không ngừng nảy sinh
từ bản chất tôi, nếu tôi không nhiệt tâm phục
vụ người, nếu tôi toan tính, nếu tôi hạn chế,
nếu tôi không chịu đựng ngay những ǵ khó nhọc
nhất theo chỉ dạy của đức vâng lời,
tôi không xứng đáng với Người.
Sau bao thánh
lễ, nơi tôi đă tham giự vào hiến tế thập
giá, sau bao lần rước lễ, tôi rước vào ḷng
Đấng Hy Sinh là Thiên Chúa. Cái ǵ khiến tôi có tinh thần
hy sinh? Cái ǵ khiến tôi là người hy sinh chính ḿnh? Tôi có
thể hy sinh bằng ngh́n cách : nhờ đức vâng lời,
đức ái, sự lao khổ bản thân, sự nhiệt
thành, nhờ mọi nhân đức mà một tu sĩ phải
thực hành với mức độ cao nhất.
Tóm lại,
tôi có được hy sinh không ? Tôi có được đặt
lên bàn thờ hy lễ một lần nhất định và
tôi có nói với Chúa : « lạy Chúa, hăy hiến tế con
như chính Chúa đă được hiến tế, để
con minh chứng t́nh yêu con nơi Chúa, như chính Chúa đă
minh chứng t́nh yêu Chúa cho con ? ». Tôi có thực sự là
người hy sinh không ?
Chương IX :
Đức khiết tịnh
Đức
khiết tịnh rất quí với ta bởi v́ nó là bằng
chứng rất đặc biệt của t́nh yêu đối
với Thiên Chúa, đối với Thánh Nữ Đồng
Trinh, hoa quả tuyệt vời nhất của việc thờ kính phép
thánh thể.
Thực hành trong Hội Ḍng : Chính nhờ việc tôn thờ Chúa Giê
Su trong nhà tạm và trong t́nh thương mến đối
với Mẹ Đồng Trinh mà những thành phần của
gia đ́nh nhỏ bé chúng ta lấy sức mạnh cần
thiết để giữ lời khấn hứa này. Nên
tránh những hội thoại vô ích. Cuộc sống luôn phải
bận rộn. Nên khiếp sợ những hội thoại
nguy hiểm. Nên luôn luôn sẵn sàng ư thức những hành
động của ḿnh. Nên nhớ rằng đời sống
tông đồ là đời sống các thiên thần. Nên có những
nhân đức của các thiên thần. Chỉ với tấm
ḷng trong lành, hồn nhiên mới có thể đón nhận những
giao tiếp của Đấng được gọi là vinh
quang muôn đời của Chúa Cha.
Các Vị Bề
Trên hăy nhớ rằng cứu cánh của ơn gọi là
Thiên Chúa và có được măi măi Thiên Chúa. Chỉ có sự
trong sạch tuyệt đối nhất mới sẽ có thể
đạt được cứu cánh đó, theo lời của
Chúa đă phán: « Phúc cho những ai có ḷng trong sạch v́ họ
sẽ được nh́n xem Thiên Chúa”.
Đức khiết tịnh theo ánh sáng của
đức ái : Bằng chứng lớn lao nhất mà tôi có
thể dành cho Thiên Chúa v́ t́nh yêu đối với Người,
đó là từ chối mọi quyến luyến v́ Chúa,
để bảo vệ đức khiết tịnh, cho dù
là hợp lí. Đức khiết tịnh phải quí giá với
tôi bởi nó biến tôi trở nên con của Mẹ Maria
hơn và là bạn của Chúa Giê Su.
Có thể
nói ǵ về nhân đức này, khi chuẩn bị ḿnh để
nh́n xem Thiên Chúa gần hơn? Phải chăng tôi nên im lặng
và rộng mở cửa ḷng ḷng những hành vi nhỏ bé nhất,
những lời nói tối thiểu nhất, những linh cảm
mờ nhất nhất làm giảm sắc màu rực rỡ
của bông hoa đẹp này th́ hơn ?
Trong việc
tôn thờ phép thánh thể, tôi sẽ cầu xin Thầy Chí
Thánh cho tôi ḷng ngất ngây nhờ rượu làm phát sinh những
trinh nữ, và sẽ cầu xin các thánh thần ngự bên
Ngai Ṭa Người để biến tấm ḷng và tâm hồn
tôi nên trong sạch như họ.
Chương X : Việc khổ hành thân
xác
Sự dồi dào của đức
ái theo Cha d’ALZON ở trong sức mạnh chịu đựng.
“Mẹ Maria là người trong sạch nhất giữa các
tạo vật chỉ v́ để làm người cộng
tác toàn thiện nhất với Chúa Giê Su Ki Tô trong mầu nhiệm
cứu chuộc nhờ ḷng trắc ẩn”.
Thực
hành trong Hội Ḍng: Các tu sĩ sẽ phải biết rằng
họ hy sinh cuộc đời khi vào Hội Ḍng. Cuộc sống
không thuộc về họ nữa. Cuộc sống dù dài hay
ngắn đều không quan trọng, miễn là nó được
sử dụng theo ư muốn Thiên Chúa. Bởi vậy, không lí
do sức khỏe nào sẽ được chấp nhận
để không làm những việc được yêu cầu.
Cũng vậy, khi được yêu cầu chữa bệnh,
họ phải vâng lời để thực thi những ǵ
đẹp ḷng Chúa nhất.
Người
tu sĩ là một người lính đấu tranh hoặc
treo vũ khí theo lệnh của thầy. Phải luôn có
trước mắt cứu cánh của ơn gọi, đó
là chiến thắng trần gian, chiến thắng chính ḿnh,
và sự tỏ hiện của Chúa Giê Su bị đóng
đinh. Để có thể chiến thắng chính ḿnh,
ăn năn sám hối là cần thiết, nhưng phải
tương xứng với tinh thần của Tu Viện
chúng ta. Ăn năn sám hối được tỏ hiện
nhất trong nghèo khó, kinh nguyện, học tập, kiên nhẫn
trong việc làm, nâng đỡ của tha nhân và chuyên cần.
Việc
ăn chay và những khổ hành khác sẽ không cần thiết
như trong các tôn giáo khác, bởi v́ phải làm suy yếu
thân xác trong những việc nhằm cứu vớt các linh hồn.
Đôi khi, những khổ hành ấy không những không bị
cấm, trái lại cũng được khuyến khích thực
hiện.
Một
trong những nguyên do khiến ta ăn năn sám hối cách
đặc biệt sẽ đạt được, hoặc
là thành công trong công lao, hoặc là sự trở lại của
những người tội lỗi, hoặc là sửa chữa
những tai tiếng làm suy nhược Giáo Hội. Chính
để thúc dục bản thân nên ta hay suy niệm về
cuộc khổ nạn của Chúa Giê Su Ki Tô.
Khổ hành thân xác theo tiếng
gọi của đức khiết tịnh và t́nh yêu : Nơi người tôi yêu thương
như bông hoa huệ giữa gai góc, Phu Thê trên trời đă
nói như thế. Nếu tôi muốn bông hoa khiết tịnh
của ḿnh bảo tồn được vẻ tươi
sáng, tôi phải bảo vệ nó bằng gái góc. Có nghĩa là
bằng Thần khí và những thực hành khổ hành thân
xác. Dù sự khổ hành không phải là một trong những
đặc tính của Hội Ḍng Mẹ Về Trời,
đối với tôi, nó như là một điều kiện
của mỗi cuộc đời ki tô hữu, như là người
bảo trợ cho sự khiết tịnh, và như là chứng
tá của ḷng sùng kính đốt cháy tấm ḷng thừa tác
viên của Chúa Ki Tô.
Là người
Ki Tô hữu, tôi nên nhớ rằng tôi là người tội
lỗi, rằng tôi phải trả giá cho món nợ tội lỗi
bằng việc ăn năn sám hối. Là bạn của
Chúa Giê Su, tôi phải ư thức mạnh mẽ về khả
năng tôi có thể bảo quản kho tàng quí giá nhất của
ḿnh. Là người tu sĩ, tôi phải mang những linh cảm
của Chúa và hoàn thành nơi xác thịt những ǵ c̣n thiếu
trong cuộc khổ nạn của Chúa Giê Su Ki Tô.
Tra vấn lương tâm : Việc làm khổ thân xác của tôi phải
là một sự ăn năn thống hối với sự
thỏa ḷng, mang tính đề pḥng, mang t́nh yêu thương.
a) Sự thỏa ḷng : Tôi có ư thức được tôi phải
trả giá cho chính tôi về cái ǵ ? Nếu chết đi, và
sa luyện nguc, tôi sẽ phải tôi luyện bao lâu ở
đó ? Tôi sẽ phải chịu khổ những ǵ ? Và thế
nhưng, chướng ngại vật tối thiểu nhất,
chút bất tiện tối thiểu nhất đă làm tôi hoảng
hốt. Tôi không biết chịu đựng ǵ cả. Tôi chỉ
dâng hiến chút ǵ đó trong hàng ngàn công lao trong cuộc sống
với nỗi ghê sợ tột độ và nó sẽ là những
khổ hành thân xác quí hiếm, nếu như tôi muốn
điều ấy.
b) Sự đề pḥng : Tôi làm ǵ để bảo quản nhân
đức khiết tịnh ? Bằng những pḥng ngừa
nào tôi đă giữ nó khỏi những hơi thở ô uế
? Trong các đàm thoại, việc đọc sách báo, cái nh́n,
rèn luyện trí tưởng tượng, có ǵ phải cắt
bỏ đi không ? Tôi đă đón nhận những việc
khổ hành trong đời sống tu sĩ như thế
nào ? Tôi có chăm chú trốn tránh những ǵ gai mắt làm
tôi mệt mỏi ? Tôi có ghê tởm nào đối với những
gai góc mà Chúa Giê Su muốn tôi bao quanh ḷng ḿnh ?
c) T́nh yêu
: Nếu tôi đặc biệt chuyên tâm phục vụ bàn thờ,
tôi không thể đến với Thầy Chí Thánh mà không cầu
xin Người xót thương dân Người, mà không ban tặng
chính ḿnh tôi như người hy sinh để xóa dịu
cơn thỉnh nộ của Người. Tôi muốn thêm
ǵ vào lời nguyện để được nhẫm lời
? Chúa Giê Su đạt được ơn cứu độ
cho người tội lỗi trên cây thập giá, giữa những
đớn đau tột độ trong linh hồn và
nơi thân xác. Tôi muốn dâng hiến ǵ cho người tội
lỗi khi hiệp thông với Chúa Giê Su ?
Nếu tôi sống
đời sống chiêm niệm dưới chân Phép Thánh thể,
tôi phải sống đôi kinh nguyện và sám hối ăn
năn. Tôi đă làm ǵ cho đến lúc này để sống
cuộc sống này và để chuẩn bị vào cuộc
sống ấy theo tinh thần Luật Ḍng ?
Chương XI :
Ḷng nhiệt thành đối với ơn cứu chuộc
các linh hồn.
Bởi ơn gọi và khẩu
hiệu : Nguyên Nước Cha trị đến, chúng ta tồn
tại để phục vụ các linh hồn. Ḷng nhiệt
thành, hoa quả vượt trội của đức ái,
bao trùm mọi nhân đức và nhấn mạnh đặc
điểm hoạt động tông đồ mà những nhân
đức ấy mặc lấy trong Hội Ḍng.
I
Thực hành trong Hội Ḍng : V́ tinh thần của Ḍng đặc biệt
là tinh thần tông đồ, chúng ta phải áp dụng để
đạt được những nhân đức mà ơn
gọi cao cả này đ̣i hỏi, chừng nào c̣n phụ
thuộc vào ta. V́ thế ta sẽ nhớ rằng Chúa chúng ta
đă đến trong thế gian không phải để
được phục vụ, mà để phục vụ.
Và chúng ta áp dụng đưa ḿnh vào trong tính phụ thuộc
khiêm nhường vào các linh hồn mà ta được mời
gọi làm việc thiện. Ta sẽ nhớ rằng các linh
hồn ấy có quyền trên chúng ta. Ta chỉ có quyền
trên các linh hồn theo sự tín thác của Chúa Giê Su Ki Tô
để dẫn dắt họ đến sự toàn thiện,
theo những phương cách được trao ban.
Sự tôn
kính phát sinh từ tính phụ thuộc này sẽ cứu giúp
các linh hồn và cứu giúp ta. Chính ở trong ḷng Chúa Giê Su Ki
Tô mà các linh hồn nên quí báu với ta. Chúa Giê Su Ki Tô đă
minh chứng t́nh yêu cho họ khi đổ máu đào ra v́ họ.
T́nh yêu phải là thước đo những nỗ lực
của ta để dẫn dắt họ đến sự
thánh thiện, theo ơn gọi của họ.
Dù ǵ đi nữa,
mọi tu sĩ phải sẵn sàng đón nhận mọi
công việc mà Các Bề Trên đề nghị, trong hạn
chế của Tu Viện chúng ta. Tuy nhiên, Các Vị Bề
Trên phải chăm sóc xem xét cẩn thận tu sĩ nào làm tốt
công việc nào hơn tùy theo khả năng, phẩm chất
tự nhiên của họ, nhất là tùy theo những đặc
sủng được ban cho họ để hành động.
Phẩm chất của ḷng nhiệt thành : Chúng ta sẽ mang, trong việc tốt
ta làm, mối quan tâm vô vị lợi có thể được,
nhất là sự quan tâm đến vinh quang ảo. Ta sẽ
vui hưởng phúc lộc mà những người khác thực
hiện mà ta đă cho là không xứng đáng làm, và trong những
bối cảnh mà những người khác thực thi công
tŕnh của Thiên Chúa, ngay ở những nơi mà ta dường
như có quyền thực thi việc ấy, ta sẽ nói
như Môi-sen : Hăy làm đẹp ḷng Chúa, nguyện mong tất
cả nói tiên tri. » Ḷng nhiệt thành của chúng ta sẽ
khiêm nhường, chúng ta nhớ đến lời của
Chúa Giê Su Ki Tô với các tông đồ : « Khi anh em làm
những ǵ đă được yêu cầu, anh em hăy trở
về và thưa lại : chúng tôi là những tôi tớ vô
dụng. » (Lc 17, 10)
Sau hết,
ḷng nhiệt thành của ta sẽ bền bỉ, v́ những
thánh Thư không ngừng cho ta những điển h́nh về
cách thức Thiên Chúa làm cho thành công những công việc
Người muốn, trong khi những công việc ấy
dường như gây thất vọng ; v́ khi con người
đầu tư ít hơn, Thiên Chúa góp công nhiều hơn nữa.
II
Việc chiêm ng ắm và hành động
được hiệp nhất v́ chúng ta trong một mục
đích : phục vụ cho Nước Chúa Giê Su Ki Tô lớn
mạnh khi cầu nguyện âm thầm, như Mẹ Maria Mẹ
ta, hoặc là khi lo những việc góp phần vào việc
thiện của Giáo Hội. Dù ở dưới mái nhà nào,
tôi luôn làm việc để minh chứng t́nh yêu của tôi
đối với Chúa Giê Su Ki Tô và lôi kéo các linh hồn về
với Giáo Hội.
Việc chuẩn bị của cá nhân
đến từ lời khấn hứa thứ tư : Tôi sẽ đặc biệt chăm lo
những mục đích khác nhau ấy, nhưng tôi muốn
xem xét trước mắt Thiên Chúa, để biết
đâu là những việc mà một tu sĩ phải chuẩn
bị thực hiện hay c̣n có nghĩa là người
đă tuyên khấn lời hứa thứ tư của ḿnh.
1. Tôi phải
ở trong mọi cảm t́nh của Chúa khi Người
đến trong thế gian. « Thầy đă đến
ném lửa vào mặt đất, và thầy những ước
mong phải chi lửa ấy đă bùng lên? » (Lc 12, 49) Tôi
phải muốn nung đốt các linh hồn bằng ngọn
lửa thiêng liêng này, và đời sống tôi phải luôn
hướng về mục đích này.
2. Tôi phải
ở trong mọi khổ nạn mà Chúa Giê Su đă chịu
đựng trong cuộc đời phải chết của
Người. Việc làm, mệt nhọc trong hoạt động
rao giảng, mồ hôi, bị bỏ rơi, những đối
lập, những bách hại, những sự vô ơn mà chính
người là nạn nhân. Lời nguyện cầu của
Người trong giờ hấp hối ở vườn
Ô-liu, những đớn đau trong cuộc khổ nạn,
những trả tấn, lúc khát nước, lúc bị bỏ
rơi phải đối diện với tử thần : tất
cả những điều ấy phải hiện diện
luôn trong tôi để gởi lên trong ḷng ư tưởng về
t́nh yêu mà Thiên Chúa đă mang đến cho các linh hồn
được cứu chuộc bằng máu của Người,
và bởi cái giá Người đă trả để cứu
chuộc họ.
3. Tôi phải
yêu mến các linh hồn và không ngừng nhiệt tâm v́ họ
: yêu thương các linh hồn công chính v́ những nhân đức
của họ, và muốn họ ngày càng được thánh
hiến để đem lại niềm ủi an cho Chúa và
cho vinh quang của Người ; yêu thương các linh hồn
tội lỗi và khát khao hết linh hồn ḿnh sự trở
lại của họ, để sự hy sinh trên đồi
Can-Vê không vô dụng đối với họ. Ḷng nhiệt thành của tôi về
điểm này phải thận trọng. Nếu tôi phải
coi sóc các trẻ em, hay những người hưu dưỡng,
hay bất cứ người nào mà tôi muốn làm điều
thiện. Ḷng nhiệt thành của tôi phải được
đức vâng lời chỉ dẫn, và tôi phải suy nghĩ
thật tốt điều này rằng nếu muốn làm việc
quá mức hoặc qúa nhanh, tôi không làm được ǵ hoặc
tôi làm giở, làm sai ; nhưng đồng thời cũng cần
phải mạnh mẽ như Thầy Chí Thánh. Tôi phải sẵn
sàng với mọi thứ để cứu vớt các linh hồn,
theo những chỉ dẫn của Luật Ḍng và của Các
Vị Bề Trên. Nếu tôi ở trong tập viên, chính bằng
lời cầu nguyện và việc sám hối, nếu
được phép, mà tôi phải minh chứng t́nh yêu của
tôi đối với các linh hồn ; chính ở dưới
chân Phép Thánh thể mà tôi phải tuôn đổ những khát
khao, những giọt nước mắt, v́ sự thánh hóa của
những người công chính, sự trở về của
những người tội lỗi, tán dương Ṭa
Thánh, sự thánh thiện của giới giáo sĩ, tự
do của Giáo Hội, sự lẫn lộn những kẻ
thù của Thiên Chúa, chiến thắng của Chúa Giê Su Ki Tô,
ngay ở hạ giới này.
Do sẽ phải là những việc tôi
phải chuẩn bị ; những việc đó thực ra
là ǵ ? Ḷng sùng kính của tôi không phải mang chút ǵ đó ích
kỷ sao ? Hành động của tôi không phải có chút ǵ
đó chỉ liên quan đến ai đó mà thôi sao, chứ
không phải v́ Thiên Chúa, nhưng v́ người đó? Tôi có
trái tim mạnh mẽ cho Chúa và đối với những
ǵ Người yêu thích? Tôi muốn cầu nguyện không ?
Tôi muốn đau khổ ? Tôi muốn đấu tranh ? Tôi
có muốn là một v́ tông đồ cho Người tùy theo
hạn chế của ḿnh ?
PHẦN BA :
CÁC PHƯƠNG CÁCH THÁNH HÓA
Về những nhân đức
siêu nhiên hóa sức mạnh hành động, cha d’ALZON nhắc
đến những hành vi thể hiện và làm phát triển
nó trong ḍng chảy của cuộc sống thường
ngày. Sự thật thà và liênm khiết, luôn được
cha Sáng Lập khuyên bảo v́ đó là những dấu ấn
về phong cách sống của chng ta.
Ba
chương đâu miêu tả bầu khí của cuộc sống
toàn thiện: cuộc sống nghiêm túc, tuân theo việc kiểm
soát của các Bề trên, cuộc sống được mặc
lấy thinh lặng.
Mươi
lăm chương tiếp theo gởi lên cho ta, lúc mặt
trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn “
lúc ta lấy kinh nghiệm về sự chết ”, những
sự chuẩn bị nội tâm sẽ làm hưng phấn
những bước đi của ta. Chương XIX đến
XXIII bàn về những cách kiểm điểm và thanh tẩy
dành cho những tu sĩ được dâng hiến đến
sự toàn thiện.
Cuối cùng, chương “ đời sống
nội tâm” được xem là phần kết luận
thông thường của DIRECTOIRE.
Chương một:
Quy tắc
Cuộc sống thường
nhật phải là một cuộc sống theo qui tắc,
tuân theo sự kiểm soát của các Bề Trên, một cuộc
sống có sự âm đêm thinh lặng !
Luật Ḍng có thể
được nh́n nhận theo hai phương diện: phần
chính của luật và tinh thần luật.
Phần chính của luật là tổng thể
những luật được Giáo Hội khởi xướng
để nêu ra những điều bắt buộc chung về
đời sống tu tŕ, thêm vào đó là những qui tắc
chung phải tuân thủ của Hội Ḍng. Đó là những
sự chuẩn bị mà kinh nghiệm, thời gian, sự
thận trọng của Các Vị Sáng lập, sự phê chuẩn
của Giáo Hội đă chứng thực là hữu ích nhất
cho việc thánh hóa các linh hồn; và bởi v́ tôi có phúc
được mời gọi vào đời sống tu tŕ
v́ sự thánh hóa linh hồn tôi cách đặc biệt, theo
quan điểm thứ nhất này, tôi phải có sự kính
trọng lớn lao nhất đối với bộ Luật
của ḿnh.
Nhưng quan
điểm thứ hai mới quan trọng nhất, đó là
tinh thần của Luật, đó là việc b́nh luận
Tin Mừng không chỉ nêu lên những đ̣i hỏi để
vào nước trời, mà cả những khuyên răn để
đạt đến sự toàn thiện. Hơn nữa,
đó lại là bài b́nh luận thích nghi với những nhu cầu
của hồn tôi trong ơn gọi đặc biệt này.
Mọi khát vọng sự thánh thiện không phải nằm
trong mỗi điều luật ; hẳn là có những nét
lôi cuốn khác nhau ; những điều mà mọi điều
luật đ̣i hỏi, đó là áp dụng luật theo tinh thần
Luật.
Tôi đang ở
mức độ nào về mối quan hệ này (luật và
tinh thần luật) ? Bộ luật của tôi không phải
thường bị tôi vi phạm và bởi những lí do nhỏ
nhen hay sao ? Không phải là tôi thường chu toàn bộ luật
của ḿnh với sự hèn nhát ? Không phải tôi thường
thực thi luật theo lời pharisiêu ? Bộ luật không
phải thường xuyên là nguyên do của biết bao th́ thầm
và nổi loạn sao ? Đến bao giờ tôi quyết tâm
thực thi với ḷng mến v́ sự thánh hóa con người
tôi và v́ vun xây con người của các anh em tôi ? Khi phạm
luật, tôi có cảm thấy đau khổ v́ gây ra việc
tai tiếng ?
Chương II: Các
Vị Bề Trên.
Đời sống tu sĩ của
ta không những phải tuân theo sự kiểm soát thầm
kín của Bộ Luật, mà c̣n đặc biệt ở
dưới sự kiểm soát sống động của
Các Vị Bề Trên.
Thánh Phao Lô
đă nói: “ Hăy vâng lời những người lănh đạo
anh em và hăy phục tùng họ, v́ họ chăm sóc linh hồn
anh em như những người phải trả lẽ với
Thiên Chúa. Như thế, họ sẽ vui vẻ thi hành phận
sự của ḿnh mà không than thở, bởi v́ điều
đó chẳng ích ǵ cho anh em”. (Dt 13, 17)
Thực vậy, Các Vị Bề
Trên là ǵ với tôi? Họ là những người đại
diện cho Thiên Chúa, mang trách nhiệm đối với
Người về ơn cứu độ của tôi và của
Hội Ḍng, hoặc về một phần của Hội
Ḍng được giao phó cho họ. Họ đáp lại
linh hồn tôi, và đó là một trong những lí do lớn
nhất về sự vâng lời của tôi. Tôi không thể
tẩy họ ra khỏi trách nhiệm về linh hồn tôi
bởi tính độc lập, v́ lời khấn hứa ấy
liên kết tôi với họ và liên kết họ với tôi.
Tôi thuộc thành phần của Hội Ḍng, tôi không có toàn
quyền, và Các Vị Bề Trên của tôi cũng không có
toàn quyền. Họ đă nhận quyền từ Hội
Ḍng. Họ buộc phải thi hành. Theo chức năng, họ
phải chăm sóc lợi ích chung của mỗi cộng
đoàn hoặc của một cộng đoàn đặc biệt
nào đó được giao phó cho họ. Và nếu tôi không
có toàn quyền gây rối luật lệ, tôi cũng không có
toàn quyền để luật lệ bị rối ren.
Tôi có thường
xuyên rên rỉ Các Vị Bề Trên ? Không phải tôi đă chỉ
trích, khiển trách, và thấy rằng việc quản lí nhà
cửa, công việc, các lớp học, các tu sĩ, sẽ tốt
hơn nếu họ tham khảo ư kiến tôi?
Không phải
tôi đă trao đổi những cảm nghĩ với những
người khác? Không phải tôi đă vui sướng nắm
bắt những yếu đuối, những nhược
điểm của các Vị Bề Trên? Những điều
ấy đă làm phấn khích tính độc lập nơi
tôi về cái ǵ? Sự toàn thiện của tôi đă
được ǵ bởi những phẫn nộ, những
tâm trạng bực bội, những tính khí thất thường,
những hờn dỗi, mà tôi đă có khi chán ngấy? Tôi
đă khiến các Bề Trên than phiền, tôi đă làm cho cộng
đoàn sa sút, tôi đă thiếu đức vâng lời; tôi
đă lơi lỏng, nếu không phải là đă làm tan nát
sợi dây liên kết những lời khấn hứa của
tôi.
Đến
bao giờ tôi mới là người giản dị, hiền
lành, dễ uốn nắn, vâng nghe những người mang
trách nhiệm về tôi. Những người mang trọng
trách lớn hơn khi được phó thác nhiều người
mời gọi nên thánh thiện, họ phải t́m thấy
niềm vui dâng ḿnh cho Chúa Ki Tô Giê Su mà họ đại diện.
Và tôi phải nh́n thấy thường xuyên nơi họ là
những tôi tớ đầy nhiệt thành theo ư hướng
mà Thầy nhân lành muốn ban cho họ qua những kẻ
được Người sai đến.
CHƯƠNG III :
Thinh lặng
Không chương nào nhấn mạnh sự thinh lặng
hơn vị trí ưu tiên mà cha d’ALZON dành cho chương
này.
Thực hành trong Hội Ḍng : Càng buộc phải sống trên thế
giới này, ta càng phải cố gắng t́m sự cô quạnh
trong ḷng theo những giai đoạn nhất định.
Mỗi
năm, anh em sẽ đi tĩnh tâm mười ngày, và mỗi
tháng tĩnh tâm một ngày theo thánh chỉ của Đức
Chúa đă ban bố. Phải nhận ra rằng chính nhờ
sự cố gắng để tĩnh tâm mà anh em có thể
duy tŕ sự hiệp nhất với Chúa và với t́nh yêu của
Chúa Giê Su Ki Tô vốn là lí do bền bỉ của những gắng
công nơi anh em.
Bởi v́ mục
đích ấy mà anh em sẽ giữ thinh lặng cách đều
đặn theo những bắt buộc của riêng anh em cho
phép. Anh em tập luôn đi vào trong chính con người anh em
ngay giữa những phân tán đôi khi do công việc riêng phải
làm. Khi anh em làm mất sự thinh lặng, là v́ anh em hoàn toàn
bị bắt bưộc. Điều đó là hiển
nhiên.
Tầm quan trọng của thinh lặng: Một trong những sức mạnh lớn
nhất của linh hồn người tu sĩ là sự
thinh lặng. Ngôn sứ đă nói : sức mạnh các
ngươi ở trong thinh lặng và hy vọng, tức là cầu
nguyện. Hai phương cách thánh hóa cao quí này trợ lực
nhau : không có sự thinh lặng, không hề có sự tĩnh
tâm ; không có sự tĩnh tâm, cũng không có đời sống
nội tâm. Thực vậy, nếu nói quá nhiều, làm sao có
thể hy vọng lắng nghe trong tôi tiếng nói của
Chúa, Thiên Chúa của tôi ? Làm sao tôi có thể hy vọng
được hiệp nhất với Người ? Làm sao
tôi có thể chuẩn bị cho sự hiệp nhất ấy,
hoặc bằng việc trở lại quá khứ sẽ làm
tôi ghét lỗi lầm và thanh tẩy tâm hồn, hoặc bằng
những hành vi thờ phượng và yêu thương những
ai muốn b́nh an và sự cô quạnh trong linh hồn?
Xâm phạm
sự thinh lặng : Đến hiện nay, đâu là những
nguyên nhân khiến tôi xúc phạm sự thinh lặng? Khi t́m
nó, tôi thấy được nguyên do : 1. sự khinh suất
của tôi : tôi không muốn chú tâm chút nào ; dần dần tôi
chán ngấy những ư tưởng nghiêm túc. Nó làm tôi mệt
mỏi. Nó làm tôi kiệt sức. Tôi không chịu nổi gánh
nặng đó nữa. 2. sự tưởng tượng của
tôi : muốn lạc lơng và thích nói những lời vô vàn. 3.
Tính ṭ ṃ của tôi : muốn biết mọi chuyện, chất
vấn về những ǵ liên quan và không liên quan đến
nó. 4. Tính chỉ trích của tôi : mà trọng tâm luôn
được dựng nên để nêu ra những ǵ
được làm và được nói ra xung quanh tôi. 5. Tính
độc lập của tôi : luôn ngh́n lần bác bé không chịu
tuân theo mệnh lệnh ban bố khi tốt hơn là tôi nên
thinh lặng và vâng nghe trong sự hiệp nhất với sự
vâng lời của Chúa Giê Su và của Mẹ Maria. Nỗi khiếp
sợ khi khám phá con người tôi khiến tôi quan tâm đến
mọi thứ, trừ những nhược điểm
nơi tôi. 7. Nhu cầu : tôi cần trải theo trạng thái
linh hồn tôi để biện minh, khi điều đó sẽ
được diễn tả ngắn gọn nếu
như tôi thú nhận nhanh tính kiêu ngạo nơi tôi, tính lạc
lơng nơi tôi, tính xấu nơi tôi hay mọi nhược
điểm khác mà tôi có thể có.
Bao giờ
tôi sẽ bắt chước sự thinh lặng của
Chúa Giê Su trong cuộc khổ nạn và trong nhà tạm ? Bao
giờ tôi sẽ t́m cách giảm nói với các tạo vật
và nghe Thiên Chúa thêm chút nữa ?
Chương IV : Thức
dậy
Quên thức dậy đúng giờ
là một hy sinh bảo đảm mọi diện tiến
trong ngày dành cho Chúa.
Hy sinh đầu tiên cho Chúa là
sự hy sinh giấc ngủ ; và v́ sức khỏe thường
là lí do để nghĩ ngơi thêm, chỉ có sự vâng lời
là phương cách duy nhất giúp tôi phân rơ vấn đề
lười biếng và thận trọng.
Lúc thức
dậy, khi đă dâng trái tim cho Chúa, tôi sẽ cho rằng ḿnh
ra khỏi giường như Chúa ra khỏi mồ, có nghĩa
là đổi mới tất cả và với quyết tâm sống
cuộc đời mới. Tôi sẽ xin Chúa mặc lấy
tôi những nhân đức và hồng ân của Người,
theo như lời thánh Tông đồ khuyên ta mặc lấy
Chúa Giê Su Ki Tô ; và mặc lấy trang phục được
chúc lành như cái tủ nhắc nhở tôi rằng, dù yếu
đuối, cuộc sống tôi được thánh hiến
bởi ḷng nhiệt thành với Giáo Hội. Nếu tư
tưởng kiêu căng đến trong tôi, tôi sẽ cho rằng
dưới mặt Chúa, trang phục là dấu chỉ nhục
nhă do tội lỗi bởi tôi sinh ra trong tội lỗi. Tôi
sẽ cầu khẩn Thánh Nữ Đồng Trinh, thiên thần
tốt lành, đấng bảo trợ của tôi. Và tôi sẽ
xem xét cách khôn ngoan.
Chương V : Kinh nguyện
Ba việc làm cũng mang một tầm
quan trọng : kinh nguyện, thánh Lễ, Rước lễ
mở đầu ngày mới.
Kinh nguyện là sự tranh
đấu giữa Thiên Chúa và linh hồn, được
Thiên Chúa chinh phục và tẩy rửa linh hồn bằng mọi
thử thách theo ư Người, cho đến khi linh hồn
đạt đến sự toàn thiện hoàn hảo, trông
chừng mực mà linh hồn có thể tồn tại ở
hạ giới này giữa hữu thể hư không của
ta và hữu thể vô tận của Thiên Chúa. Bởi vậy
tôi không nên ngạc nhiên rằng kinh nguyện khiến tôi mệt
nhọc, buồn, chán, khô khan, đau đớn ; nhưng
quan trọng là vượt qua mọi thử thách và đến
với Người như ư muốn của Người.
Tôi có nghiêm
túc trong kinh nguyện không ? Không phải tôi thường thực
hành kinh nguyện nhưng tôi lại ở đâu khác sao ?
Không phải tôi đă phí thời gian trong kinh nguyện sao ?
Đâu là những ư nghĩ vô vàn trong tôi ? Thời gian của
tôi được dành cho việc kinh nguyện, nhưng làm
ǵ ? Tôi có tiến thẳng đến cái hữu ích không, và
tôi có làm mất th́ giờ trong những việc nguyện ngắm
vô dụng bởi không có ǵ liên quan với thực tế ?
Nếu tôi
ra khỏi giờ kinh nguyện với tâm t́nh đức
tin, tâm t́nh hy vọng, tâm t́nh bác ái, tâm t́nh khiêm hạ, và tâm
t́nh ăn năn tội lỗi mạnh mẽ hơn, đó
là v́ tôi sợ rằng tôi đă mất thời gian dành cho
kinh nguyện. Nếu cuộc sống tôi không ngày càng trở
nên thánh thiện hơn, nếu những lỗi lầm của
tôi không mất đi, nếu tính t́nh tôi không cải thiện
hơn, nếu các nhân đức tu sĩ không phát triển,
những kinh nguyện dài nhất và sùng kính nhất theo vẻ
bề ngoài cũng không có, tóm lại, những kinh nguyện
khô khan ?
Tôi đă có
được những giải pháp nào khi kết thúc giờ
kinh nguyện ? Và nguyện ngắm từ lâu, những giải
pháp đó đă trở nên như thế nào ?
Chương VI : Thánh Lễ
Thánh Lễ là sự diễn tả
lại cách không đổ máu về hiến tế đẫm
máu trên cây thập giá. Đó là lúc tôi hiến tế ḿnh.
Nếu
hàng ngày, khi tham dự Thánh Lễ hay khi cử hành Thánh Lễ,
nhờ tưởng nhớ đến đồi Can-vê tôi
đi lên, tôi nằm lên cây thập giá với Thầy Chí
Thánh, tới tham giự vào mọi đau khổ của
Người, việc dâng bánh rượu của Người,
sự chết mà Người đă chịu đựng v́
tôi. Nếu tôi tái diễn lại t́nh yêu mà tôi muốn đốt
cháy lên cho Người, nếu tôi chấp nhận Người
sai tôi đi với những ǵ đẹp ḷng Người,
trong sự hiệp thông với những khổ đau của
Người, không khép ḿnh, không hạn chế. Nếu tôi cầu
nguyện theo mọi ư nguyện này : cho những người
tội lỗi, cho các linh hồn luyện ngục, cho Đức
Thánh Cha, cho Giáo Hoàng, cho Giáo Hội. Giá mà tôi dâng hiến cuộc
đời tôi cho Người và mọi chi tiết của
cuộc đời tôi. Giá mà tiếp đến tôi ẩn
ḿnh như Mẹ Maria xuống đồi Can-vê, và với cảm
giác rằng Mẹ Thiên Chúa đă mang lấy giây phút kinh hoàng
và long trọng ấy. Cuộc sống tôi sẽ là ǵ trong phần
c̣n lại của ngày, sau những ǵ đức tin chỉ
cho tôi và những lời hứa mà tôi đă thốt lên ?
Tôi đă tham dự Thánh Lễ
như thế nào hiện nay ? Với tinh thần nào ? Sự
hững hờ nào ? Sự lạnh nhạt nào? Sự phân tán
nào mà tôi không có? Tôi đă lấy những quyết định
nào ? Đâu là nguồn năng lực, và tôi đă duy tŕ nó
như thế nào ?
Chương VII :
Rước lễ
Nếu rước lễ là giây
phút quí giá nhất trong cuộc đời người ki tô
hữu trên trần gian, th́ giây phút ấy càng quí hơn nữa
đối với một tu sĩ mà tinh thần phải là
một t́nh yêu đặc biệt với với Đấng
Cứu Độ ?
Tôi rước lễ nhiều lần
hàng tuần, mỗi ngày nếu tôi dâng Lễ, và tôi không phải
là một Đức Giê Su Ki Tô khác ! Tuy nhiên đó là mầu
nhiệm hiệp thông : trở nên một với Con Người-Chúa.
Khi Người phải
đến trong nhà tôi (ngủ vào ḷng tôi), tôi chuẩn bị
như thế nào ? Đâu là sự trong sạch của ḷng
tôi ? Đâu là lửa nơi ḷng tôi ?
Khi Người ở
trong tôi, cái ǵ diễn ra trong đó ? Người có là Thầy
tuyệt đối của tôi không ? Có phải tôi không bao giờ
từ chối ǵ Người ? Người có thể vào tận
trong nét gấp cuối cùng của con người tôi mà không
hổ thẹn về những cảm giác ẩn trong đó
? Tôi có khát khao cho ḷng ḿnh trở nên như pha lê, để
cho Người đem vào những tia sáng? Tôi có hoàn toàn thuộc
về Người, như Người hoàn toàn thuộc về
tôi?
Sau khi rước Người vào
nhà ḿnh, đâu là tâm t́nh cảm tạ của tôi? Đâu là những
hiệu quả ? Tôi được nuôi dưỡng bằng
bản chất Thiên Chúa, cuộc sống tôi phải trở
nên như Người. Ở ngoài c̣n hoài nghi, nhờ sự
biến đổi sự sống nơi tôi mà Thiên Chúa
đă viếng thăm tôi ?
Chương VIII: Học tập
Học tập
là bổn phận đầu tiên của chúng ta với mục
đích giảng dạy mà ta xem là phương cách mạnh
nhất để làm lớn mạnh Nước Chúa Giê Su
Ki Tô, dưới mọi tŕnh độ.
Thiên
Chúa phán bảo con người khi đuổi con người
khỏi vườn địa đàng : " Ngươi sẽ
ăn cơm bánh bằng mồ hôi nước mắt
ngươi " ; và dù những lời ấy được
áp dụng vào những công việc nói chung, nó cũng có thể
có một ư nghĩa đặc biệt đối với
tôi, nếu tôi có bổn phận học tập. Học tập
phải là sự trừng phạt đối với tôi, một
sự ăn năn đền tội. Và đó là lí do khiến
tôi can đảm làm việc, học tập dù nó làm tôi ghê tởm.
V́ đó không phải là vấn đề thích hay không, mà là một
sự bắt buộc.
Người
lao động ruộng đồng không hề chọn lựa
công việc của họ, tôi cũng không phải chọn lựa
công việc của ḿnh. Tôi chỉ biết chấp nhận
phần ruộng đồng mà người ta giao cho tôi vụn
trồng. Hơn nữa, Chúa chúng ta đă thánh hóa công việc
bằng 18 năm sống ở Nazareth, tôi phải bước
theo dấu chân Người. Và nếu Người đă làm
việc với t́nh yêu đối với tôi, tôi có thể
làm việc tốt bằng t́nh yêu đời với Người.
Cuối
cùng, Thiên Chúa là Thiên Chúa mọi hiểu biết và hiểu biết
là một trong những đặc ân của Chúa Thánh Thần,
tôi có thể hiệp nhất với Thần Khí một cách
đặc biệt khi học tập theo những thiên
hướng của đức tin và sự khiêm nhường
mà Người sẽ ban cho tôi nếu tôi cầu xin.
Tôi đă
học tập ra sao ? Không phải tôi đă trốn học
ư ? Không phải tôi đă chọn học những ǵ theo ảo
tưởng của tôi sao? Không phải tôi đă mất thời
gian khi học những môn không mang lại lợi ích sao ? Tôi
có học với tinh thần hối cải và làm khổ
hành thân xác không? Tôi có học tập trong tinh thần hiệp
thông với Chúa khi Người ở Nazareth ? Tôi có học tập
dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tôi có cầu
khẩn Người khi bắt đầu giờ học?
Việc học tập không phải đă làm tôi mất can
đảm sao ? Không phải nó đă làm tôi kiêu căng sao ?
Có phải v́ Chúa mà tôi học tập ? Có phải luôn luôn v́
tôi mà tôi học tập ? Trong học tập, tôi có t́m kiếm
Chúa Giê Su Kí Tô, sự thật đời đời ẩn
náu trong mỗi sự thật ? Nhờ cái ǵ mà tôi cố gắng
để t́m thấy Người trong mọi sự, theo lời
Thánh Kinh : " Cứu cánh của Lề Luật là Chúa Ki Tô
".
Nếu tôi yêu Thầy Chí Thánh, tôi phải
yêu mến gặp lại Người dưới mọi
h́nh thức đến với tôi. Và nhờ đức tin,
học tập chắc chắn là phương cách để
tôi hiệp nhất với Người.
Chương IX : Giảng
dạy
I. Vị trí của việc giảng
dạy trong Hội Ḍng : Chúng ta dự định cách
đặc biệt hơn làm rộng mở Nước Chúa
Giê Su Ki Tô bằng những việc sau:
Giảng dạy hiểu theo nghĩa
rộng nhất của từ, nghĩa là trường trung
học, Chủng Viện, Cao Đẳng. Ta sẽ dạy ở
cấp tiểu học như một hoạt động
cho không.
Ta sẽ cố gắng đào tạo
những người ki tô hữu gắn bó mật thiết
với Giáo Hội, và cố gắng thể hiện tính cần
thiết tuyệt đối của sự hiệp nhất
sống động, không chỉ trong tín điều, mà cả
trong môn học, dưới sự chỉ đạo ngày
càng được tôn trọng của Tông Ṭa tối cao.
V́ nếu một trong những tệ
nạn lớn nhất của thời đại hiện
đại là tính chia rẽ nhằm chia cắt những mối
liên kết trong xă hội trí thức, v́ vậy một trong
những lí do tồn tại của Hội ḍng nhỏ bé của
chúng ta phải thể hiện trong những cố gắng
của mỗi thành viên để xích lại những tâm trí
và những tấm ḷng trong một môi trường chung mà
Chúa Giê Su Ki Tô đă ban cho Giáo Hội.
II. Những khuynh
hướng đối với giảng dạy : Giảng
dạy là một trong những phương tiện mạnh
nhất để hoàn thành lời khấn làm rộng mở
Nước Chúa Giê Su Ki Tô và dù tôi tham gia vào việc giảng
dạy một cách xa hay gần, th́ tôi cũng phải nhận
thấy vui được xứng đáng với danh dự
đó.
Song le, tôi cần
chuẩn bị có những khuynh hướng nào để
giảng dạy ? Tôi có can đảm hoc những môn khó
và khô khan thuộc chương tŕnh học không ? Tôi có nhận
định đầy đủ rằngít a với tinh thần
đức tin và khiêm nhường, tôi có thể giảng dạy
những tư duy của tôi, nhưng không phải là của
Chúa chúng ta và ít ra tôi luôn luôn tuân theo tác động của
Thánh Thần, tôi có thể lúc nào cũng để cho ư riêng
tôi xuất hiện ?...
Trong khi theo học
trên lớp, tôi đă không cảm thấy quá thỏa măn với
những thành quả, nhưng lại quá chán năn về thất
bại ? Không phải tôi đă dành cho chính ḿnh vui thú mà lẽ
ra tôi đă đem lại cho các em học sinh cảm nếm
khi tôi giảng dạy ? Không phải tôi đă gán cho mọi
nguyên do khác thay v́ cho tôi sự chán học của hoc sinh v́
tôi dạy kém ?
Đâu là tinh thân giảng dạy của
tôi ? Có phải là dạy để biết Chúa Giê Su Ki Tô,
để yêu mến Giáo Hội? Tôi
có quan tâm đầy đủ đến tiến bộ của
trẻ em? Phải chăng tôi đă thích những em khác
hơn khi tôi đă tạo được ích lợi cho chúng
? Phải chăng tôi ghen tị về lợi ích mà những
người khác mang lại cho chúng ?
III : Khuynh hướng căn bản : Đây không phải là nơi xem xét những
nguyên tắc trọng yếu về giảng dạy ki tô
giáo ; nhưng không phải là trên mỗi lư thuyết, có một
việc giảng dạy thực tế xuất phát từ sự
hy sinh chính ḿnh của người thầy giáo đối với
học tṛ v́ t́nh yêu Thiên Chúa. Điều đó thúc đẩy
học tṛ không phải đến với người giảng
dạy, mà là với Người mà người thầy giao
giảng dạy. Tôi có khuynh hướng chung của việc
từ bỏ chính ḿnh ( từ bỏ cái tôi cá nhân) không ? Tôi
có bận tâm duy nhất về sự khải hoàn của
Chúa trong các linh hồn không ? Và nếu không có, tôi phải thấy
ngạc nhiên cho đến bây giờ rằng tôi đă làm
quá ít việc hữu ích, rằng việc giảng dạy của
tôi đă mang lại quá ít hoa quả cho sự sống đời
đời ?
Tôi có giảng
dạy trong tinh thần nhẹ nhàng, như thánh Phao lồ,
hay là tôi đă để lộ ra những nhược
điểm trong tính cách khi giảng dạy, đến mức
mà học sinh nhận thấy nơi tôi thứ hiểu biết
ngạo nghễ, chứ không phải là đức ái nêu
gương đạo đức ?
CHƯƠNG X : COI SÓC TRẺ EM
Lên lớp
giảng dạy vào những giờ nhất định mà
thôi th́ không đủ ; nếu ta muốn đào tạo các
trẻ em, tập phải trông coi luôn. Có lẽ đó là phần
khó khăn nhất, đáng sợ nhất trong việc giáo dục.
Coi sóc trẻ
em đủ để ngăn cản chúng làm sai và để
tranh mọi hiểm nguy trước sự ngây ngô của
chúng. Làm cho chúng yêu thích người thầy coi sóc chúng. Không
làm chúng trở nên quá khó chịu về cuộc sống.
Đôi mắt tinh vi phải không ngừng được
chú ư đến những hành vi nhỏ nhất của chúng.
Đem tính sáng tạo trong mỗi lúc, sự hưng phấn
cản trở quan tâm để việc khác hơn là về
những ư tưởng hay mà người ta gợi lên cho
chúng. Bỏ đi một số lạm dụng nơi những
người có tuổi hơn, mà không thửc tỉnh những
tưởng tượng c̣n mê muội. Biến gánh nặng
nên dễ thương hơn. Làm cho cảm thấy gánh nặng
là nhu cầu, để tạo ra thói quen trong luật lệ,
thực hành bổn phận, và nếu có thể, yêu thích cố
gắng ; học những đức tính, rèn luyện nó
trong chừng mục có thể : đó là một việc khó,
nhưng lại được tín thác cho tôi mỗi ngày
để chăm sóc trẻ em.
Biết bao
khó khăn, và đâu là sự quan tâm bền bỉ mà tôi không
phải thực thi trên chính bạn thân tôi, để làm mọi
điều tốt có thể được mà không để
cản trở bởi một bước lỗi lầm, một
phút nóng giận làm tôi mất uy tín.
Trẻ em có
tin tôi nhiệt tâm với chúng v́ Chúa ? Chúng có cảm thấy
không hề có sự thiện cảm nơi tôi ? Chúng có thấy
nơi tôi sự bất công trong đối xử? Tôi có là
người khá đạo đức dưới mắt
chúng? Tôi có hành động với chúng như tôi có khả
năng hành động v́ việc tốt ? Tóm lại, tôi có
mang sự khổ đau của Thánh Tông Đồ t́m cách làm cho
Chúa Giê Su Ki Tô đến trong các linh hồn, theo như
người đă được tín thác để loan báo
Tin Mừng? Tôi đă góp phần làm cho Chúa sinh ra trong bao nhiêu
linh hồn qua việc chu toàn nhiệm vụ coi sóc trẻ
em ?
CHƯƠNG XI : LAO ĐỘNG CHÂN
Có thể
tôi chỉ được mời gọi đóng góp trách nhiệm
vào trong Hội Ḍng bằng việc lao động chân tay. Ví
dụ, nếu tôi là người quản lí những hiện
vật trong phụng vụ, nếu tôi là y tá, nếu tôi là
thầy cần vụ vv. Nhưng đó không phải là lí do
để tôi danh giá thấp con người ḿnh.
Mẹ Maria
và thánh Giu Se đă làm ǵ trong cuộc sống của các Ngài ?
Chính Chúa Giê Su đă làm việc ǵ trong những năm đầu của
cuộc sống ? Thánh Giu Se làm việc để kiếm sống
cho cả gia đ́nh. Mẹ Maria chuẩn bị việc nội
trợ cho Chúa Giê Su và thánh Giu Se. Ngay cả Chúa Giê Su, lúc con
thơ ấu đă giúp đỡ Mẹ và Cha nuôi của
Người. C̣n tấm gương nào hơn và c̣n bạn
đồng hành nào hơn nếu tôi làm việc trong sự
hiệp nhất với họ, nếu tôi nuôi ư chí quan tâm
đến các Ngài, nếu tôi t́m cách vào trong mỗi ư tưởng
của các ngài, nếu tôi bắt chước sự hồi
tâm và sự thinh lặng của các Ngài, nếu tôi làm việc
như các Ngài làm việc !
Không có việc
làm ǵ mà Chúa Giê Su, Mẹ Maria và thánh Giu Se không nêu gương
cho tôi. Công việc vất vả, công việc tối tăm
âm thầm, công việc mà nhiều người không thích :
Giê Su, Maria, Giuse đă trải qua mọi thứ đó. Giuse
đă tuôn đổ mồ hôi để nuôi sống Con Thiên
Chúa cũng như tôi phải làm việc để nuôi sống
những tôi tớ Chúa Giê Su Ki Tô. Mẹ Maria đă làm những
việc b́nh thường nhất, v́ vậy tôi phải noi
theo v́ lợi ích của Hội Ḍng. Chính Chúa Giê Su, khi lao ḿnh
vào trong những công việc nặng nhọc, dạy cho tôi
rằng không có ǵ phải là khó khăn nếu tôi muốn trở
nên giống như Người.
Khi tôi lao
động chân tay, tôi có thói quen xếp ḿnh vào trong hàng ngũ
của gia đ́nh thánh ? Tôi có phàn nàn th́ thầm công việc?
Tôi có chú toàn công việc trong tinh thần ăn năn, khiêm hạ
và bác ái? Và nếu tôi đă không thánh hóa công việc bằng
những tư tưởng mà đức tin gởi lên cho
tôi, tôi có sợ rằng dưới mặt Chúa đó sẽ
là một công việc không mang lại lợi ích?
CHƯƠNG XII :
CÁC BỮA ĂN
Sự bồi
duỡng thân thể bằng việc ăn uống và bồi
dưỡng tinh thần bằng những giờ giải
trí phải tạo điều kiện cho chúng ta cống hiến
hơn nữa cho công việc với nhiều cố gắng
hơn nữa và với tinh thần siêu nhiên.
Nhắc
nhở Hội Ḍng về một số cảnh báo : Mong
các tu sĩ nhớ tất cả những ǵ mà các tôi tớ
Thiên Chúa đă giảng dạy về những nguy hiểm
mà lương thực mang lại. Chính bởi lương
thực mà Satan đă cám dỗ con người đầu
tiên. Chính về vấn đề lương thực mà dân
Do Thái đă luôn làm Thiên Chúa phẫn nộ trong sa mạc ; và
khi họ đói là lúc Con Thiên Chúa cho phép qủi cám dỗ
Người. Mặt khác, Chúa cảnh báo ta rằng chính bằng
việc cầu nguyện và ăn chay mà ta có thể chiến
thắng một số loại qủi ma. Mong các tu sĩ thận
trọng hơn nữa để trong bữa ăn ǵn giữ
tính đạm bạc và sự khổ hạnh phù hợp với
trạng thái mọi người.
Thánh hóa các bữa ăn : Ơn gọi tôi không nhằm vào những
việc khổ hạnh khủng khiếp như thế và cũng
không nhằm vào những việc ăn chay triền miên theo
cuộc sống của những tu sĩ đầu tiên
được kể cho ta nghe. Không tham vọng có thể
kiêng cữ như các tu sĩ đầu tiên ấy, phải
nhận thấy rằng xác thịt thèm muốn và chống
lại tinh thần và tinh thần chống lại xác thịt,
rằng hai yếu tố đó luôn gây chiến với nhau
măi măi. Đâu là yếu tố trong hai yếu tố ấy
chế ngự trong tôi ?
Tôi đă
dùng bữa với tinh thần nào ? Bắt chước thánh
BERNARD, tôi có dùng bữa như là cực h́nh ? Tôi có hài ḷng về
những ǵ có trong bữa ăn ? Không phải là tôi thận
trọng, và không phải là tôi đă làm hại sức khỏe
khi dùng những thức ăn dễ chịu hay có hại?
Tôi có thực hành sự khổ hạnh thân xác khi tuân theo một
chế độ khi được yêu cầu? Không phải
tôi đă tuân theo một số hành vi của cảm giác khiến
tôi tiếc nuối những thứ mà đời sống tu
sĩ ngăn cấm? Tôi có để ư vào bài đọc? Tôi
có thực sự để ư không? Không phải tôi đă t́m
cớ để ngồi vào bàn thứ hai, trong khi tôi có thể
ngồi ở ban đầu ? Tôi đă từng ăn những
thứ không cần thiết ngoài bữa ăn mà không
được phép? Tóm lại, có phải tôi là chủ nhân của
những tính khí thất thường trong ăn uống?
CHƯƠNG XIII: GIỜ GIẢI TRÍ
Hai h́nh thức
giải trí trong Hội Ḍng: Những việc giải trí
của các tu sĩ sẽ thuộc về hai loại: giải
trí với học sinh, và giải trí riêng giữa các tu sĩ
với nhau.
Giờ giaỉ
lao với học sinh phải là mục đích cho việc
chăm sóc đặc biệt đối với chúng. Các tu
sĩ phải tránh mọi sự thân thiện, tránh những
lời nói thô bảo. Các tu sĩ có thể vui chơi, và sẽ
phải vui chơi để tạo cho học sinh bầu
khí sinh động. Phải trông coi đừng để học
sinh tṛ chuyện với nhau quá lâu, và đùng để chúng
tạo ra những nhóm riêng. Phải trông coi hết mực
đến những học sinh đáng dè chừng. Phải
tránh những lời thô tục và những lời nói khiến
chúng cảm thấy sự khinh bi và cằn nhằn. Thỉnh
thoảng nói chuyện với trẻ em về Chúa, nhưng
không kiểu cách. Phải tạo nên cho chúng một chứng
tá về sự thân t́nh. Phải tránh những giải pháp
không thẳng thắn để lôi cuốn sự tin tưởng
của chúng. Những giờ giải lao là lúc ta có thể
làm những việc tốt cho chúng, nhưng cũng có thể
những việc xấu, bởi v́ trong những giây phút hoan
hỉ ấy, ḷng ta mở ra dễ dàng hơn với những
tác động vui sướng hoặc những tác hại.
Trong giờ
giải lao, các tu sĩ sẽ cố gắng siết chặt
mối giây đoàn kết thân t́nh và sự quyến luyến Thay giờ nghỉ quí giá nhất
mà họ sẽ lại có trong những giờ giải lao
khác. Bề Trên sẽ cố gắng tham gia vào giờ giải
lao của các tu sĩ đến mức có thể. Trong những
giờ giải trí đó, ta thường dễ làm tổn
thương đức ái và đức vâng lời bằng
những xét đoán ít mang tính thần ki tô giáo: Chỉ có sự
hiện diện của Bề Trên có thể cản trở
những lạm dụng ấy. Không ai tự ư vắng mặt
trong giờ giải lao nếu không xin phép trước. Sự
vắng mặt sẽ chỉ được chấp thuận
v́ những lí do nghiêm chỉnh.
Thánh hóa những giờ giải lao: Tôi có thể thánh hóa những giờ giải
lao như những việc làm khác trong ngày. Dùng thời gian
nghĩ ngơi cần thiết, tôi có thể luôn luôn nêu
gương đạo đức qua trang phục tu sĩ,
bởi thường th́ ta có khuynh hướng quên việc
này; bằng tính t́nh dễ thương, mà những tính thô lộ
thường được thế hiện dễ dàng trong
những lúc giải lao, bằng việc thực hành tính tập
trung và sự khôn ngoan, mà không vượt qúa những giới
hạn của lễ độ ki tô giáo. Cuối cùng, chúng
ta nêu gương đạo đức khi biết chấp
nhận những buồn chán nhỏ ngoài ư muốn trong thâm tâm.
Tôi có thể
rèn luyện tính toàn thiện bằng việc im lặng hoặc
nói năng cho phù hợp: chú tâm lắng nghe khi những
người khác nói, cố gắng góp phần đối
thoại khi giờ giải lao có nguy cơ thiếu sinh
động. Phải là người tin tưởng rằng
món quà đẹp ḷng Chúa nhất là tính nhă nhặn, tử tế
đối với bạn hữu, để làm cho họ
vui trong phục vụ, và để mang những điều
đó cách năng động hơn nữa vào những chuyện
nghiêm túc hơn sau giờ giải lao, giữa những món
quà khác nhau.
Xem xét
lương tâm: Những giờ giao lao có ư nghĩa ǵ với
tôi? Không phải tôi quá chạy theo tính nghịch ngợm? Tôi
có nói qúa lời không? Tôi có tham vọng muốn người
khác chỉ nghe ḿnh nói mà thôi? Hay là tôi không quá tập trung vào
việc giải trí? Không phải tôi thường đem lại
những bầu khí u ám, và hay cáu giận ? Không phải tôi
đă giữ sự thinh lặng có ảnh hưởng xấu
? Không phải tôi đă tỏ ra những tính khí thất
thường, những ác cảm, những giận giữ,
những lời nói thô tục trong giờ giải lao ? Tôi có
luôn luôn có ḷng bác ái, ḷng tốt, tính hiền lành, tính khiêm
nhường, tính khôn ngoan trong giờ giải lao ? Tôi đă
làm ǵ cho người khác và cho tôi một sự nghỉ
ngơi thực sự, nhằm để chuẩn bị phục
vụ Chúa tốt hơn trong phần thời gian c̣n lại
trong ngày ?
CHƯƠNG XIV : TƯƠNG QUAN VỚI
THA NHÂN
Ta không bao
giờ nên quên những đ̣i hỏi của câu khẩu hiệu:
"Nguyện Nước Cha trị đến"
tương quan với tha nhân.
Những
quan hệ bên ngoài Hội Ḍng:
Mong rằng
trong những mối quan hệ bên ngoài, anh em hăy nêu
gương đạo đức mà anh em có thể tỏ
hiện, v́ cũng như tai tiếng mà có thể anh em là
nguyên nhân, nếu như anh em không xử sự theo tư
cách của những người tu sĩ thật sự.
Mong tất cả đều khiêm tốn trong tư cách của tu sĩ, trong ăn mặc, cũng
như đồ đạc trong nhà. Mong sự khiêm tốn
làm cho cảm thấy nhất là trong mối tương quan
với tha nhân. Mong các tu sĩ nhớ rằng sự khiêm tốn
thể hiện những mối quan hệ ấy với con
người như là chủ nhân của chính những mối
tương quan ấy, là những bản sao sống động
của Chúa Giê Su Ki Tô, và biến tư cách họ trở nên
sự rao giảng có hiệu quả hơn những bài nói
dài ḍng.
Thánh hóa những tương quan ấy : Cuộc sống tôi không nên khép kín trong
ngôi nhà kín, và v́ tôi được mời gọi phải có
một số quân hệ, lời khấn hứa thứ bốn
bắt buộc tôi thánh hóa những mối quan hệ khi nó
c̣n phụ thuộc vào tôi. Vị thánh nào mà đă không yêu mến
Chúa. Ai đă không yêu thích mạnh mẽ quyến rũ các
linh hồn về với Người, hoặc bằng lời
cầu nguyện, hoặc bằng lối sống khắc
khổ, hoặc bằng lời nói ?
Có thể sự
ảnh hưởng tiếng nói của tôi bị hạn chế,
những khi tiếp đón người khác, tôi nói nhiều
hơn về những đề tài liên quan đền
ơn cứu độ. Tôi gạt bỏ những nguy hiểm,
tôi tránh những cuộc
đàm thoại vô ích, tôi không để thời gian lăng phí !
Chắc chắn, tôi có thể nói về những đề
tài khác ngoài đề tài tôn sùng đạo, nhưng có thể
tôi qúa quên rằng nếu sự tôn sùng đạo không là cái
hồn của cuộc hội thoại của một tu sĩ,
người đời trước tiên sẽ ngạc nhiên
về điều đó, rồi họ cũng thỏa ḷng
về cách hội thoại ngoài đời diễn ra trong
pḥng tiếp khách, biện bạch cho những cuộc
đàm thoại thường ngày của họ. Những cuộc
đàm thoại như thế có một thứ tiện lợi,
mà kết quả chắc chắn không phải là sự
đánh giá của người đă cho phép, nhờ ngôn ngữ,
một thứ tiếng cười cũng quá ít mang tinh thần
ki tô hữu.
Trái lại,
nếu trong những quan hệ của tôi với người
khác, tôi chỉ có mục đích là ích lợi cho các linh hồn,
cuộc khải hoàn của Chúa, biết bao thứ hữu
ích, tốt lành, tôi nói đến mà không có vẻ ǵ cả ;
biết bao thiện cảm tôi đă giao tiếp bằng từ
cách duy nhất ; biết bao xét đoán không mang tính bác ái, tôi
sẽ không tiếp tục nữa, chỉ có thể nhờ
vào sự thinh lặng mà thôi !
Chắc chắn,
tôi có thể không có ơn nói giỏi về Thiên Chúa,
nhưng tôi phải có nhân đức biết im lặng ; và
nếu tôi biết hy vọng hành động của ḿnh sẽ
hữu ích, tại sao ḷng nhiệt thành mà tôi phải làm cháy
bỏng v́ Chúa và v́ Giáo Hội lại không gợi lên cho tôi phương
cách làm gương cho những người tôi buộc phải
nh́n thấy ?
Nhất là
tôi phải làm việc lành cho những thành phần của
gia đ́nh ḿnh, và bởi v́ họ đến t́m tôi, sao tôi lại
không tận dụng chức vị của ḿnh để mạnh
dạn nói chuyện với họ về ơn cứu độ
của họ ? Trong mọi trường hợp, tôi phải
tin mạnh mẽ rằng sự dịu dàng của họ
làm họ trở nên rất đ̣i hỏi, và sự bất
toàn thiện ở mức tối thiểu mà họ sẽ
khám phá nơi tôi đối với họ là một loại
chiến thắng sẽ đền bù cho họ khỏi những
mệt nhọc khi họ để tôi giao tiếp với họ.
Pḥng tiếp
khách không phải thường làm tan nát ḷng tôi do những cuộc
viếng thăm trao đổi quá lâu, do một số buổi
gặp gỡ trao đổi vừa kéo dài và vừa vô ích ?
Không phải tôi đă chạy theo tính ṭ ṃ, và những chất
vấn của tôi không phải đă vượt giới hạn
trong việc giữ bí mật trong đời tư ?
Kiểm tra những mối quan hệ : Việc lành tôi có thể làm, việc xấu
tôi có thể vấp phải trong những mối
tương quan với bên ngoài chứng tỏ cho tôi tính cần
thiết thận trọng, và sự vâng lời các Bề
Trên quan trọng biết bao. Kinh nghiệm mỗi ngày chỉ
cho thấy rằng v́ quá muốn làm việc lành, ta lại
thường làm việc xấu, và đó là lí do khiến tôi
phải nhờ người hướng dẫn, khi nào mà
các Bề Trên c̣n chưa đảm bảo là tôi chưa
đủ chín chắn để đứng vững một
ḿnh, và v́ lí do đó tôi rộng mở ḷng ḿnh với họ
với sự thẳng thắn trọn vẹn nhất, về
mối quan hệ của tôi với người khác, cũng
như những ǵ c̣n lại, Bộ Luật Ḍng qui định
cho tôi.
CHƯƠNG XV : ĐỌC SÁCH THIÊNG LIÊNG
Ba hoạt
động thiêng liêng khác kết thúc một ngày sống và
làm việc của ta : Vả lại nó rất có thể xen
vào giữa những bận bịu để ta đứng
vững trong cảm nhận về sự hiện diện của
Thiên Chúa.
Người
ta thường hay nói với tôi : trong kinh nguyện, tôi nói
chuyện với Thiên Chúa ; trong những bài giáo huấn mà
tôi nghe, trong những bài đọc, chính Thiên Chúa nói với
tôi. Để tận dụng điều ấy, tôi phải
đọc sách nhiều :
1. Cảm nhận đức vâng lời
trong việc chọn những quyển sách được
cho tôi mượn. Khi nhận sách từ tay các Bề Trên,
tôi gần gũi hơn với tiếng nói của Thiên Chúa.
2. Cảm nhận đức tin giúp tôi
đón nhận những ǵ được bàn đến
trong sách theo quan điểm siêu nhiên và tránh xa những vấn
đề được đề ra bởi tính ṭ ṃ của
con người. Chúa Giê Su Ki Tô là cứu cánh của lề luật.
Trong việc đọc sách, tất cả phải dẫn
tôi đến với Người ; và nếu tôi không đến
với sự thật đời đời, nhờ việc
rèn luyện này, thời gian của tôi bị lăng phí, và có thể
được sử dụng cách nguy hiểm.
3. Cảm nhận tính giản dị giúp
tôi đón nhận mỗi thứ với tính tích cực, thẳng
thắn mau lẹ, chứ không ngại ngùng, đắn
đo trong cái đầu chật hẹp.
4. Cảm nhận tính thành thật sẽ
không cho tôi ảo tưởng và cho phép tôi tận hưởng
những sáng tỏ quá việc đọc sách thiên liêng có thể
mang lại trong tâm trí, khiến tôi đi đến nơi
mà Thiên Chúa thúc đẩy tôi đi và không đến những
nơi mà Người không muốn tôi đi.
5. Cuối cùng, sự chú ư nghiêm túc giúp tôi
ǵn giữ trong ḷng, như Mẹ Maria, điều đánh
động tôi và sự niềm nở như Mẹ Maria,
để rút ra những hoa trái thực tiễn cho sự
thăng tiến thiêng liêng. Có phải tôi đọc sách với
tâm t́nh đó không ? Có phải tính ṭ ṃ là động cơ
khiến tôi đọc sách? Tôi có luôn chấp nhận thành thật
những sáng tỏ được ban cho tôi qua việc
đọc sách? Có phải tôi chỉ t́m kiếm Đức
Giê Su Ki Tô và những giảng dạy của Người
trong việc đọc sách? Từ khi tôi học tập nghiên
cứu, trong việc đọc sách, những nguyên tắc
và những phương tiện của sự toàn thiện,
tôi trở nên hoàn thiện hơn về mặt ǵ?
CHƯƠNG XVI: CHUỖI MÂN CÔI
Tràng mân côi
nhắc nhở tôii những mầu nhiệm chính yếu về
cuộc đời Chúa Giê Su Ki Tô và về Mẹ Người.
Nếu tôi lần chuỗi mân côi trong ư thức và trong tâm
trí, tôi có thể t́m được đề tài suy niềm
tuyệt vời: miễn là tôi tuân theo trật tự những
mầu nhiệm và biết áp dụng cách hữu ích cho linh hồn
ḿnh, cho đến khi tràng mân côi trở thành một loại
tạp chí những nhân đức tu sĩ đối với
tôi, trong đó tôi xem xét lại ḿnh thực hành những mầu
nhiệm tràng mân côi như thế nào, tôi c̣n thiếu cái ǵ,
và tiếp đến tôi cầu xin ơn để có
được những nhân đức ḿnh chưa có?
Chính với
Đức Maria, Mẹ tôi, mà tôi trao đổi về những
nhân đức ấy. Mẹ là gương mẫu đối
với tôi, và cũng như những sự toàn thiện của
con Mẹ. Tràng mân côi phải giúp tôi vào sâu hơn nữa
trong sự sống Chúa Giê Su và Mẹ Maria.
Làm sao tôi làm
tṛn sự thực hành sừng đạo này ? Không phải
là bằng thói quen cổ hủ hay sao, không hề ư thức,
phân tán luôn ? Tràng mân côi có phải đă là một sự thực
hành sùng kính thật sự, hay đúng hơn nó chỉ
thường là một việc làm máy móc mà thôi? Trong tràng mân
côi, sự kính trọng nào tôi dành cho Mẹ Maria mà tôi cầu
khẩn, v́ những mầu nhiệm lớn lao tôi phải
suy niệm, và sự suy niệm nghiêm túc đă tạo nên biết
bao ích lợi cho tôi ?
CHƯƠNG XVII: KINH NHẬT TỤNG
Kinh nguyện
phụng vụ mang ư nghĩa trên hết là sự diễn tả
tuyệt vời nhất bởi ḷng sùng kính, sau việc tôn
thờ Bí Tích Thánh Thế: Đó là trường dạy của
Đức Ki Tô nơi ta tự rèn luyện ḿnh theo tinh thần
siêu nhiên.
Thực hành trong Hội Ḍng: Khi đọc kinh nhật tụng chung,
ta xin làm những việc sau:
1. Làm khổ hạnh bản thân v́ chúng
ta, trong sự tăng mạnh những mệt mỏi mà giờ
kinh nhật tụng có thể gây nên.
2. Lí do nêu gương cho trẻ em ở
trường học nơi ta đọc kinh.
3. Trong tương quan với tha nhân, coi
trọng những kinh nguyên quan trọng của Giáo Hội
trên vô số thực hành mà ta không chê trách, nhưng ta tuân theo
những kinh nguyện long trọng ấy như là kinh nguyện
chung tốt nhất.
Nét đẹp của kinh nhật tụng: Kinh nhật tụng ở thế gian là
chức năng của các thiên thần trên trời: Họ
ca tụng Chúa với những nguồn linh hứng của
Thiên Chúa. Tôi giám làm việc ǵ khi ca tụng Chúa với những
lời Thánh Kinh, với những kinh nguyện được
Giáo Hội cho phép? Khi đọc kinh nhật tụng, tôi phải
góp phần vào sự chuẩn bị của thiên thần.
Kinh nhật
tụng có nghĩa là bổn phận phải làm. Kinh nhật
tụng với một nghĩa nào đó là bổn phận
trên hết mà Giáo Hội phục vụ Thiên Chúa, tức là sự
tôn thờ chung, cầu nguyện, tôn thờ trên khắp hoàn
cầu.
Khi đọc
kinh nhật tụng, tôi phải vào trong mỗi ư nguyện của
Giáo Hội, tức là nơi hội tụ của các thánh trả
nợ cho Thiên Chúa, khi thỉnh cầu sự bền bỉ
của những người công chính và sự trở lại
của những người tội lỗi. Chính Giáo Hội
cũng chỉ cầu nguyện nhân danh Chúa Giê Su Ki Tô. Giáo Hội
tiếp tục cầu nguyện ở trần gian này,
như Tông Ṭa tối cao không ngừng đưa ra những
kinh nguyện của Giáo Hội, từ trời cao, đến
Thiên Chúa Cha. Tôi cầu nguyện trong sự hiệp nhất
với Chúa Giê Su Ki Tô. Và thực vậy, nếu tôi hiệp
nhất với Đấng Trung Gian của Thiên Chúa và con
người, lời nguyện của tôi sẽ được
Chúa nhậm lời.
Tra xét lương tâm : Cho đến bây giờ, tôi đọc
kinh nhật tụng với ḷng tôn kính nào ? Tôi đă hiểu
được danh dự khi thuộc về một Hội
Ḍng nơi tôi dâng kinh nguyện chung lời nguyện long trọng
nhất của Giáo Hội? Tôi đă thấm nhuần
như thế nào những ư nguyện mà lời nguyện của
Giáo Hội gợi lên? Với ḷng sùng kính nào, tôi hiệp nhất
với hàng ngũ các thiên thần và các thánh ở trên trời
đang không ngừng ca tụng Thiên Chúa? Tôi có t́m để
chỉ muốn nên một với Chúa Giê Su Ki Tô, Đấng
hằng sống luôn chuyển cầu cho chúng ta? Không phải
là tôi thường hay để bị phân tán, chạy theo
tính vô kỷ cương, theo buồn chán ? Và sự sống
trên trời mà kinh nhật tụng mời gọi tôi gia nhập
không phải đă từng là nguồn chán ngấy và thiếu
tôn kính?
CHƯƠNG XVIII : GIỜ NGỦ
Một ngày
nào đó tôi phải chết, và mỗi khi vào giấc ngủ,
tôi sống kinh nghiệm về sự chết (ngôi mộ).
Một ngày nào đó, tôi sẽ không thúc dậy lại nữa
; người ta sẽ đem tôi đến nơi an nghỉ
trong ḷng đất và trông chờ sự thức giấc
đời đời.
Mỗi khi
buồn ngủ, tôi có tin rằng ḿnh sẽ thức giấc
trở lại trên trần gian này, và Chú rể sẽ không
đến vào giờ tôi không ngờ như những trinh nữ
trong dụ ngôn hay sao ? Tôi có chuẩn bị đèn dầu
không ? Trái lại, không phải đèn dầu của tôi
đang tắt dần sao ? Không phải nó đă tắt hẳn
rồi sao ? Đó là điều tôi phải tự hỏi
ḿnh mỗi lúc đi ngủ. Ôi ! nếu như, thay v́ tiếng
chuông, như sẽ xảy đến một ngày nào đó,
th́ lại là tiếng kèn tù và phán xét đến chớp lấy
giấc ngủ, tôi sẽ xuất hiện như thế nào
trước mắt đấng thẩm phán công chính ? Tôi có
sẵn sàng chưa ? Và nếu chưa sẵn sàng, làm sao tôi
có sự can đảm ngủ yên khi lương tâm rối
bời ?
Sự thing
lặng trong đêm có thể là điều hữu ích và
thánh thiện đối với tôi. "Tôi ngủ, nhưng
ḷng vẫn thức", hiền thê trong sách Diễm Ca nói.
Trong đó có một lời nói làm yên ḷng mà tôi có thể sử
dụng để hiệp nhất hơn nữa với Thầy
Chí Thánh. Chính trong sự thinh lặng ấy mà tôi có thể cầu
nguyện với sự tập trung cao độ hơn.
" Thứ thái b́nh an vừa nằm con đă ngủ",
và sự tách khỏi những tạo vật, do sự yếu
đuối của tự nhiên đ̣i buộc, đối với
tôi có thể là một thử nghiệm việc chia li một
cách trọn vẹn hơn, thức dậy và tràn đầy
ư muốn, ngày mai tôi sẽ hoàn thành để t́m được
sự yên nghỉ trong Chúa mà thôi.
CHƯƠNG XIX: SỰ XEM XÉT ĐẶC
BIỆT
Phần
cuối của tập chỉ dẫn (Directoire), cha d'ALZON
đă tạo thành một nhóm các phương cách kiểm
tra, thanh tẩy bắt buộc đối với các tu sĩ
tuyên khấn theo sự toàn thiên.
Chỉ có
không ngừng học tập th́ tôi sẽ mới biết
được con người ḿnh. Việc xem xét đặc
biệt là một sự rèn luyện rất hữu ích nhằm
đem lại cho tôi nhận biết chính bản thân khi mạc
khải cho tôi sự hư không và tội lỗi tôi. Nó cũng
mạc khải cho tôi những nhược điểm vốn
là căn nguyên của tội lỗi tôi. Nó cũng giúp tôi
khám phá phương châm cứu chữa đối với mầm
mống sự ác, sự dữ.
Tôi làm ǵ
để nhận biết tốt về bản thân? Với
tính thành thật và tính nghiêm khắc nào tôi kiểm điểm
bản thân ḿnh? Việc tra vấn lương tâm giúp tôi khám
phá sự khiếp sợ nào về tính lạc lơng và những
sa ngă của tôi trong cuộc sống thường ngày? Không
phải tôi thường hay coi nhẹ vấn đề
đó sao? Tôi có làm việc đó với ư chí quyết tâm
đầy nghị lực để từ bỏ những
ǵ không tốt mà tôi phát hiện ra trong tôi ? Tôi có đề
ra cho ḿnh một sự ăn năn hữu ích nào đó khi
nhận ra một số sa ngă quen thuộc ? Hay tôi luôn vẫn
như cũ, bởi v́ tôi nghi ngờ ánh sáng sẽ to cho tôi
thấy những nhược điểm, và bởi v́ tôi
thiếu năng lực cần thiết để triệt
tiêu nó tận gốc rễ ?
CHƯƠNG XX : XƯNG TỘI
Xưng tội
thường xuyên được yêu cầu đối với
những người hay lo âu về sự toàn thiên : việc
xưng tội ǵn giữ họ trong tinh thần khiêm hạ,
đền bù và sửa chữa lỗi lầm.
Tôi là một
người tội lỗi, và Thiên Chúa, trong ḷng nhân từ,
không ngừng dâng hiến máu của Con Người để
tẩy rửa tôi trong bể thống hối. Tôi tiếp cận
một bí tích để đón nhận ơn tha thứ tội
lỗi nhờ công lao của máu Con Thiên Chúa với sự
kính trọng nào !
Việc tra
xét lương tâm phải nghiêm túc. Xưng tội phải
thành thật, thẳng thắn sẽ giúp nhanh gọn
hơn. Sự ăn năn của tôi phải là lí do khiến
tôi ư tứ cách nghiêm chỉnh hơn bao giờ hết ; bởi
v́ nói chung, nếu tôi chỉ phạm những tội nhẹ
phải xưng, quan trọng không phải là liệt kê dài
ḍng mọi chi tiết về những lỗi lầm ấy,
mà quan trọng là cảm giác đau đớn khi tôi thú nhận
tội lỗi và quyết tâm mạnh mẽ để không
mắc phạm lại những lỗi lầm đó nữa,
nhờ hồng ân Thiên Chúa.
Tôi xưng
thú những ǵ ? Có phải là những chuyện kể
hơn là những cáo tội ? Không phải tôi thường
thích thú trong những chi tiết vô ích ? Tôi có thường
t́m trong bí tích giải tội được ơn tha thứ
tội lỗi, chứ không t́m trong đó như một sự
thỏa măn của con người muốn bỏ đi những
nặng nề trong ḷng ḿnh? Tôi có nhận ra Thầy ḿnh
đang sẵn sàng tha thứ cho tôi tại ṭa cáo giải,
ăn năn?
Tôi có luôn
ăn năn sám hối thật ḷng? Tôi có học nhận ra
trong ơn tha thứ tội lỗi và trong sự kích thích sự
ăn năn hối cải một lí do để yêu mến
Chúa hơn nữa, Đấng phó ḿnh v́ tôi, để minh chứng
t́nh yêu cho tôi ?
Tôi đă chu
toàn sự ăn năn sám hối đ̣i buộc như thế
nào ? Có phải tôi chỉ thường ăn năn sám hối
trên môi miệng mà thôi, trong khi tôi phải làm việc đó với
tất cả ḷng sùng kính mà tôi có thể, cảm tạ Thiên
Chúa trừng phạt tôi rất nhẹ nhàng do những tội
lỗi tôi vừa thú nhận ?
CHƯƠNG XXI : VIỆC TÍNH TIỀN CHI
TIÊU
Một trong
những phương tiện thánh hóa mạnh mẽ nhất
trong đời sống tu sĩ, chắc chắn là việc
tính chi tiêu. Nhưng để việc này sinh ra những hiệu
quả như mong muốn, tôi phải thực hiện :
1. Trong tinh thần đức tin: dù
người mà tôi tính tiền tiêu là ai, dù người đó
cũng có lỗi lầm thiếu sót, người đó vẫn
là người đại diện Thiên Chúa cho tôi. Vậy,
không chỉ tôi phải nh́n nhận người đó, mà c̣n
là Thiên Chúa Đấng tôi cầu xin sự trợ giúp, ánh
sáng và khuyên răn.
2. Việc tính tiền của tôi phải
đơn giản, rơ ràng, chính xác. Mọi úp mở khiến
tôi mất lời nói rút cục chỉ là những mưu mẹo
của ḷng tự ái, những t́m ṭi, tính khéo léo ngu xuẩn,
hậu quả từ một nhu cầu quá đáng chăm lo
cho cái tôi của ḿnh, hay tính bất lợi do tính khí rối
rắm.
3. Tôi phải tránh những giải thích
vô dụng và những lời xin lỗi triền miên. Kinh
nghiệm minh chứng rằng, nói chung, những việc
đó chỉ làm mất thời gian mà thôi. Thời gian của
các Bề Trên là quí giá, và nhất là trong những nhà đông
người. Cái ǵ tôi cho là quá vô ích với ḿnh, tôi bỏ
đi v́ cần thiết cho những anh em khác. Tính trung thực
không phải là sự dài ḍng. Càng ngắn gọn, có tính tốt,
tôi càng trung thực. Vậy nhưng, nếu tính trung thực
trọn vẹn không ở giữa trong việc tính chi tiêu,
việc làm ấy của tôi là hoàn toàn vô ích.
Với lí do muốn nói hết mọi
điều, nếu tôi phải tranh không ngừng lập lại
những đề tài như nhau, như vậy làm cho những
quan hệ trong lương tâm không bao giờ giải tỏa
với các Bề Trên. Cũng vậy, hiển nhiên khi sẽ
cần thiết, tôi phải biết dùng mọi thời gian
của ḿnh. Quy luật tốt nhất cho việc đó là
nói với họ. Khi hiểu vấn đề, họ sẽ
nói cho tôi biết. Và như vậy hoàn toàn vô ích t́m cách minh chứng
để họ nhận ra là họ không hiểu ǵ. Tôi buộc
họ phải trả lời theo ư muốn của tôi, trong
những bối cảnh ấy, khổ nỗi là câu trả
lời hầu như không bao giờ là ư Chúa.
Những
nhược điểm trên được tránh, chắc rằng
việc tính toán trong chi tiêu có thể là một tính hữu
ích nhất đối với tôi. Nó mở ra và cũng khép lại
tâm hồn tôi, để hồn tôi an b́nh hơn giữa bàn
tay của những người mà linh hồn tôi được
tín thác. Nó làm sáng tỏ những nghi vấn, làm cho tôi nên mạnh
mẽ, khích lệ tôi và kích động tôi đối xử
rộng lượng và nhiệt t́nh hơn. Cuối cùng, nó
đưa tôi cận kề với Chúa, Đấng mà tôi phải
đón nhận những tiếng nói từ môi miệng những
người hướng dẫn tôi.
CHƯƠNG XXII : THÚ NHẬN LẦM LỖI
Chương
này nhắc nhở ta bổn phận phải nhắc nhở
và sửa đổi cho nhau trong t́nh huynh đệ. Một
việc làm hay bị né tránh một cách khéo léo, trong khi đó
là một trong những hoa trái tế nhị nhất của
đức ái.
Chương về thu nhận tội
lỗi được lập nên để tự thân rèn
luyện đức khiêm hạ. Đó là một thực hành
rất ghê tởm đối với bản tính vốn ít thỏa
ḷng nh́n nhận những nhược điểm nơi bản
thân; đồng thời là một sự rèn luyện mà tôi
phải thực thi đức ái trong những lời tuyên bố
mà tôi được mời gọi thi hành.
Phần này
rất quan trọng trong đời sống tu sĩ, có thể
đối với tôi là một hành vi không có tầm quan trọng,
buồn cười, nguyên cớ của sự nổii dậy
nội tâm, một nhục nhă ê chề, nếu như tôi chỉ
đón nhận với những từ thế của con
người. Nó có thể có những kết quả quí giá nhất,
nếu như tôi dự phần vào đó với đức
tin, đức ái và đức khiêm nhường.
Đức
tin có thể hiệp nhất tôi với những nhục nhă
của Chúa khi Người đứng trước ṭa xét xử
ở Giêrusalem. Đức ái có thể khiến tôi có những
ư kiến kinh khiếp, nhưng đức ái cũng tạo
cho tôi có thể thể hiện đủ những tố chất
siêu nhiên để chấp nhận những ư tưởng
khủng khiếp đó. Cuối cùng, đức khiêm nhường
khích lệ tôi chấp nhận những ư kiến được
đem đến cho tôi, ví dụ như ư kiến tố cáo
những nhược điểm của tôi với mục
đích giúp đỡ và sửa chữa tôi.
Chương về sự thú nhận
tội lỗi đă là ǵ đối với tôi ? Với những
thái độ nào, tôi đă thú nhận tội lỗi của
ḿnh ? Tôi có đón nhận những ư khuyên và những việc
ăn năn sám hối mà người khác đă chỉ cho
tôi ?
CHƯƠNG XXIII : ĐỜI SỐNG NỘI
TÂM
Sách hướng
dẫn (chỉ dẫn) chỉ là một lời khích lệ
để sống sự sống của Chúa Ki Tô. Sự sống
này được ban tặng cho ta từ Trời Cao
nhưng với điều kiện và với chừng mực
từ sự từ bỏ của ta ; ḷng sùng đạo
không nên uể oải, với lí do là phải nhẹ nhàng, mềm
mại ; con đường của ḷng sùng đạo thật
là con đường Calvaire.
Những
điều kiện không thể tránh : Đời sống
tu sĩ nói riêng chỉ là đời sống toàn thiên hơn
của Thiên Chúa trong linh hồn ta, và sự sống đó chỉ
có thể được thiết lập nhờ cái chết
hoàn toàn nơi chúng ta. Để chết đi chính ḿnh, cần
thực hiện :
1. Chết đi những giác quan, chinh phục
nó cho đến khi nó hoàn toàn bị khuất phục và
đến khi nó không c̣n chế ngự nào nữa trên chúng
ta.
2. Chết đi những ham muốn xác
thịt. Đến bao giờ c̣n ham muốn ǵ khác ngoài Chúa
hay cái ǵ không liên quan đến vinh quang Thiên Chúa, tôi sẽ
chưa chết đi những dục vọng.
3. Chết đi những t́nh cảm
lưu luyến đặc biệt. Lời Chúa ăn sâu vào
trong tôi hơn lưỡi gươm hai lưỡi. Lời
Chúa thấm sâu vào tôi đến tận đáy ḷng. Thiên Chúa
là Đấng ghen tị, Người muốn là Thầy duy
nhất của hồn tôi.
4. Chết đi những tạo vật.
Từ khi tôi là người tu sĩ, thế gian đă chết
đối với tôi và tôi cũng chết đi trong thế
gian. Khi nào c̣n có cái tôi chưa từ bỏ, tôi sẽ c̣n sống
sự sống loài người, tôi sẽ chưa thể
đạt đến sự toàn thiện của sự sống
nội tâm.
5. Chết đi chính ḿnh tôi. Đó là việc
khó khăn nhất, và thế nhưng tôi phải làm cho bằng
được. Rất có thể sự chết này không thực
hiện được mà không phải chịu đ̣n
đau. Trong sự chết này tôi phải chịu đựng
như trong giờ hấp hối của linh hồn, giờ
mà linh hồn được tẩy rửa. Phải đi
qua nhọc nhằn, buồn chán, khó khăn, cám dỗ đủ
thứ. Đó là những điều kiện của đời
sống nội tâm.
Tra xét lương tâm : Rốt cuộc, tôi có quyết định
đi qua bằng những con đường ấy không ?
Tôi có muốn từ bỏ những giác quan và làm lay chuyển
tính tàn bạo của nó không ? Tôi có muốn chỉ khát khao
những sự trên trời, những t́nh thương quyến
luyến dành cho Chúa mà thôi ? Những ham muốn xác thịt của
tôi có bị chế ngự không ? Những t́nh thương
quyến luyến của tôi có bị khuất phục không
? Trọn tấm ḷng tôi có được thiếu hủy bởi
t́nh yêu Thiên Chúa ? Những tạo vật là ǵ đối với
tôi ? Nó có c̣n làm tôi bận tâm nữa không ? Tôi có cho đi tất
cả những ǵ xung quanh tôi và ở trong tôi ? Tôi có chấp
nhận những điều kiện của sư từ bỏ
tuyệt đối này , của sự trần truồng của
linh hồn mà tôi phải chịu đựng, nếu tôi muốn
được mặc lấy Đức Giê Su Ki Tô ? Tôi
đă chết để cho sự sống của tôi
được ẩn náu với Chúa Giê Su Ki Tô trong Thiên Chúa
?
Nhưng tôi
không thể yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô mà không muốn mọi tạo
vật yêu mến Người, và đó là li do về đặc
tính tông đồ trong cuộc sống tôi.
Lời cầu nguyện kết thúc : Ôi lạy Chúa, đây là mục đích
cuộc đời con : từ bỏ mọi sự, tránh xa
mọi sự, để được mặc lấy Con
của Chúa và măi măi hiệp nhất với Chúa. Xin ban cho con
ánh sáng để nh́n thấy những ǵ con đang thiếu.
Xin ban cho con sức mạnh để đạt được
những nhân đức không có. Xin ban cho con hồng ân theo
đuổi ơn gọi của con, ngox hầu khi làm con thật
sự của Giáo Hội và của Trinh Nữ rất Thánh,
con không quá bất xứng được bắt chước
những nhân đức của Chúa Giê Su, Thầy con.
Ôi lạy
Chúa, nguyện sự hiệp nhất của con với Chúa
được bắt đầu trên trần gian này,
được thiêu hủy muôn đời trong đại
dương của ḷng nhân từ, t́nh yêu, và những sự
toàn thiện vô tận! Nguyện được như vậy!
II. NHỮNG GIẢNG DẠY TẠI KỲ
BẾ MẠC TÔNG TU NGHỊ
Những
kỳ tổng tu nghị từ năm 1868 đến 1873 và
bốn lá thư gửi Cha giáo tập (1868-1869)
Bài dẫn
nhập thứ nhất
Bài giảng ngày 17 tháng 9 năm 1868, lúc kết
thúc kỳ họp chung, và những "lá thư gửi Cha
Giáo Tập" viết vào những năm 1868 và 1869 gắn
liền rất chặt chẽ với phần Linh Thao vừa
mới được chính thức công nhận. Giống
như phần chỉ dẫn linh thao, phần giảng dạy
được phát triển trong bộ khung của ba mặt
trong t́nh yêu Thiên Chúa, t́nh yêu Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ
Người, và t́nh yêu Giáo Hội, Hiền Thê của Người.
Nhưng trước đó, tầm quan trọng của khẩu
hiệu ADVENIAT REGNUM TUUM đă được nhắc lại
rất rơ cho chúng ta. Ngay từ ban đầu lúc lập Ḍng
mà câu nguyện xin thứ hai trong kinh lạy Cha đă
được thông qua như là bản năng cho khẩu
hiệu của Tu Viện mới. Ba khía cạnh trong t́nh yêu
sẽ chỉ được diễn tả lên sau này, trong
giai đoạn cha d’Alzon gặp phải những thử
thách về sức khỏe từ năm 1854 đến 1858,
như là một sự đào sâu về mặt thiêng liêng về khẩu hiệu A.R.T.: Tinh thần
phục vụ hào hiệp v́ Nước Trời đ̣i hỏi
một t́nh yêu trọn vẹn đối với Đức
Ki Tô. Cha d'ALZON muốn đưa chủ đề NƯỚC
TRỜI vào trong phần Chỉ dẫn linh thao, nhưng cha
cho rằng tốt hơn khi bàn thảo chủ đề
này cách riêng, kỹ lưỡng hơn vào một dịp thuận
tiện. Đây là việc Ngài đă làm, nhằm đáp ứng
mong mỏi của Kỳ Họp năm 1868, một cách thân
mật hơn, nhưng luôn luôn sâu sắc, trong những
"bức thư gửi Cha Giáo Tập".
BÀI
GIẢNG DẠY
được đọc vào lúc kết
thúc Kỳ Tổng Tu Nghị của các Cha (Thầy) Augustinô
Mẹ Về Trời ngày 17 tháng 9 năm 1868
Sollociti servara unitatem spiritus in vinculo pacis
(ép IV, 3).
Bài giảng
dạy này, vả lại đă được trích vào rất
khéo trong in ấn của cha Picard, en 1884, là bài b́nh luận
được đặc biệt đánh giá tốt về
phần thứ nhất trong Phần chỉ dẫn linh thao.
Bắt
đầu từ khẩu hiệu này, cha Picard nhấn mạnh
về những đặc điểm nổi bật nhất
của t́nh yêu chúng ta đối với Thiên Chúa, đối
với Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người, và
đối với Giáo Hội, Hiền Thê của Người.
Và luôn luôn từ khẩu hiệu này, cha Picard nêu ra những
chú trọng chính yếu trong hoạt động tông đồ
kêu gọi ta thực hiện, trong những thử thách hiện
tại của Giáo Hội, trong sự hài ḥa hoàn hảo với
ba khía cạnh trong t́nh yêu.
Cảm tạ
vi tính nghiêm trang của Tu Nghị: Các cha, các con, cha rất
vui muợn những lời này của thành Phao lồ, bởi
v́ cha thấy đó là đại ư về những công việc
và những lần hội họp rất quan trọng, quí
giá mà ta kết thúc hôm nay. Một tinh thần hiệp nhất
mạnh mẽ hơn trong những nguyên tắc được
đề ra rơ ràng hơn. Mối dây của t́nh bác ái đă
trở nên mạnh mẽ, sâu lắng, triển nở
hơn bao giờ hết, nhờ những trao đổi
trong t́nh thân hữu này, ta đă cố gắng tạo ra sự
trong sáng như tinh thể cho ḷng trí chúng ta, bởi v́ chúng ta
không có ǵ phải che dấu, không có ǵ để giữ kín:
đó sẽ và măi măi là lí do việc ta ơn của chúng ta
đối với Chúa Cha của mỗi ánh sáng, nơi
Người tuôn chảy mọi ơn toàn thiện, nơi
Người ta đă đón nhận biết bao đặc
ân trong suốt những ngày được chúc phúc này.
Đề nghị của Cha d'ALZON: Lúc chia tay nhau, cha muốn tín thác cho anh
em, nếu cha có thể nói như vậy, di chúc về suy nghĩ
chung và về những cảm nhận chung, nhắc nhở
anh em một lần nữa, có thể là lần cuối
cùng, công việc của Ḍng Mẹ Về Trời dựa vào
cơ sở nào, nền tảng nào, và bằng phương
tiện nào chúng ta muốn phát triển công việc của
ta hơn bao giờ hết .
Có lẽ cha
không dạy ǵ mới mẽ cho các con. Cha sẽ không nói ǵ với
các con v́ các con đă suy nghĩ tốt hơn nhiều khả
năng diễn đạt của cha. Tuy nhiên, những lời
của cha có thể tạo ra tính nghiêm trang hùng vĩ hơn
cho buổi lễ tổng kết này. Những lời ấy
cũng có thể được dùng cho lần bế mạc
kỳ họp lần sau bởi chúng ta cảm thấy buồn
đến giờ bế mạc chia tay, nhưng cũng có
thể là một sự nhấn mạnh về sự tin
tưởng trong những mối dây siết chặt chúng
ta, v́ không ǵ hơn sự xa cách chỉ dạy cho anh em biết có khả năng yêu
thương nhau.
Công việc
của Ḍng Mẹ Về Trời dựa trên nền tảng
nào
L'A.R.T và ba khía cạnh trong t́nh yêu là nền
tảng cho công việc :
Đời sống thiêng liêng, bản chất người
tu sĩ, lí do hiện hữu với tư cách là Tu sĩ
Augustinô Ḍng Mẹ Về Trời của ta nằm trong khẩu
hiệu : ADVENIAT REGNUM TUUM. Triều đại Nước
Thiên Chúa trong linh hồn ta, bằng những thực hành các
nhân đức ki tô giáo và các lời khuyên của Tin mừng,
tương xứng với ơn gọi của ta ; Triều
đại Nước Thiên Chúa trên trần gian bằng sự
tranh đấu chống lại Satan và cuộc phục chinh
những linh hồn được Chúa Ki Tô cứu chuộc
và thế nhưng vẫn đang ch́m ngập trong bóng tối
của lỗi lầm và tội lỗi. C̣n ǵ đơn giản
hơn ! C̣n ǵ tầm thường hơn h́nh dáng t́nh yêu này của
Thiên Chúa! nếu cha có thể nói như vậy. Nếu các
con thêm t́nh yêu Chúa Giê Su Ki Tô, t́nh yêu Thánh Nữ Đồng
Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội, Hiền Thê của
Người vào trong t́nh yêu chính thế ấy, các con sẽ
biết dưới thành ngữ vắn gọn nhất tinh
thần của Ḍng Mẹ Về Trời.
Không ǵ đơn giản và thành thật
hơn người công giáo:
Những có ǵ đặc biệt trong đó? Mọi người
ki tô hữu thực sự có thể chấp nhận không?
Những tư tưởng nào, dưới những tư
tưởng căn bản này có thể phân biệt chúng ta với
những gia đ́nh tu sĩ khác không? Không phải các tu sĩ
và những người ki tô hữu ngày nào cũng nhắc lại
Kinh Lạy Cha tiếng kêu mà chúng ta muốn biến thành tiếng
kêu mang tính khẩu hiệu: ADVENIAT REGNUM TUUM? Những người
ki tô hữu và các tu sĩ không phải tất cả đều
phải yêu mến Chúa Giê Su, Thánh Nữ Đồng Trinh,
Giáo Hội hay sao? Một lần nữa, tại sao muốn
biến di sản chung của tất cả mọi người
thành đặc điểm riêng của Hội Ḍng?
Trước
hết cần nhận ra đặc tính đầu tiên của
Tu Viện chúng ta: Tính đơn giản về những
phương châm.
Người
ta cho rằng cái hiếm nhất trên trần gian, đó là
quan điểm chung. Khẳng định rằng trong thế
giới công giáo cái hiếm hoi nhất là quan điểm
chung công giáo có phải là một nghịch lí không? Chính v́
điều đó mà ta t́m cách lấy nó làm của ḿnh như
một nét độc đáo. Chúng ta đơn giản là
người công giáo, nhưng là những người công
giáo hết khả năng của ḿnh. Chúng ta là người
công giáo cùng một khối, và bởi v́ với thời gian
trôi qua, nhiều người chỉ là bạn-công giáo, nhiều
người công giáo trong thời đại họ, những
người công giáo bằng việc ḥa giải, những
công giáo tự tin là công giáo, c̣n chúng ta, chúng ta là những
người công giáo thành thật, trước hết mọi
sự, toàn vẹn, chúng ta bước qua những con mắt
của đám đông để đến với những
người ở cách biệt, nếu không phải là những
người đặc biệt. Đó là đặc tính
đầu tiên của tu sĩ Augustino Ḍng Mẹ Về Trời.
a) T́nh yêu của ta đối với
Chúa. Đối diện với sự cứng tin thời hiện
đại, nhận ra những quyền của Chua…
Sẽ c̣n
được tỏ hiện rơ hơn nữa, nếu ta
nói về t́nh yêu của ta đối với Chúa Giê Su Ki Tô.
Bị tấn công tứ phía, Thầy Chí Thánh là sự
điên rồ cực độ trong sự khéo léo của
con người hiện đại. Ngài là x́-căng-đan của
Do Thái Giáo chiếu theo lề luật, theo thuyết duy cảm
tàn nhẫn hay tinh vi.
Vậy th́
ngày nay ai muốn Đức Giê Su Ki Tô? C̣n sót một người
nào không lên án Người? Chính viên đá ấy, trưởng
tử các thánh tông đồ nói như vậy với dân
thành Giêrusalem, năm mươi ngày sau cái chết của
Đấng Cứu Thế, chính tảng đá này, ôi những
thơ xây bất cẩn, mà các người đă vứt bỏ,
nhưng nó đă được thiết lập như tảng
đá góc tường : (Cv 4, 2). Vâng, luôn luôn chính viên đá
khiếp sợ đó, chính Đấng Cứu Độ đă
nói về viên đá ấy : " Kẻ nào vấp phải
viên đá ấy sẽ bị ngă, và kẻ nào bị viên
đá ấy rơi xuống sẽ bị tan nát ". (Mt 21,
44). Vậy, chính trên tảng đá này, theo gương Thiên
Chúa, chúng ta muốn xây dựng, bởi v́ tảng đá ấy
là nền tảng đức tin chúng ta. Đối với
ta tất cả được đổi mới lại
trong Đức Giê Su Ki Tô. Đó là lời rao giảng duy nhất
của ta, bởi v́ đó là nguồn hiểu biết duy nhất
của ta. Nhờ Người và chỉ nhờ Người
mà thôi, ta đến với Chúa Cha, và trong Người những
kho tàng ơn khôn ngoan và hiểu biết về Thiên Chúa
được ẩn chứa. Nơi Người sự
toàn thiện dồi dào ngự trị. Ta đă thấy nhiều
hồng ân và sự thật, sự thật để xua
đuổi những bóng tối, những hồng ân để
ta vượt qua sự dữ, sự ác. Chúng ta không cần
nghe một thầy nào khác nữa. Người có lời ban
sự sống đời đời: Domine, ad quên ibimus?
Càng thẳng thắn và hăng say nồng
nhiệt v́ Chúa th́ càng bị lăng quên và bị bác bỏ : Đúng vậy, ta đến với
Chúa Giê Su Ki Tô, ta khẳng định về Chúa Giê Su Ki Tô
trước mắt những kẻ phủ nhận Người,
hay thù ghét Người, hay từ bỏ Người; sự
phụ nhận của kẻ cứng tin, sự hận thù
của kẻ ô uế, sự bỏ rơi của kẻ lạnh
nhạt thờ ơ hay của kẻ phản bội đối
với chúng ta là biết bao nguyên do để ta quây quần
bên Đức Giê Su Ki Tô bằng một t́nh yêu nồng nhiệt
hơn, năng động hơn, mềm mại hơn, và
tỏ hiện cách long trọng hơn. Trong Người ta
yêu mến Thiên Chúa, và dù không xứng đáng, ta tuyên xưng
thiên tính của Người ; ta yêu con người, có nghĩa
là con người hoàn thiện nhất giữa mọi mẫu
mực và nhẹ nhàng nhất giữa các bạn hữu. Ta
yêu con Người-Chúa ; tức là Đấng ban b́nh an từ
trời và đất, tiến sĩ thực thụ về
luật, finis legis Christus, Đấng dẫn đưa
vào thế giới siêu nhiên, khi rửa ta trong máu của
Người, Người mang lấy ta bằng sức mạnh
và ḷng nhân từ của Người trong những phạm
vi bậc cao mà con người ngày nay không ước muốn
nữa. Bởi v́ những phạm vi đó là đế chế
thực sự của Đấng tối cao mà người
ta không muốn, hơn nữa thậm chí v́ những hồng
ân của Người. Thật vậy, ta yêu mến Người
bởi v́ Người mang đến cho ta ánh sáng thật và
ích lợi thật. Ta yêu mến Người bằng tính yêu
của những thời đại ban đầu, bởi
v́ thù địch ta gặp ngày nay cũng như ngày xưa,
bằng t́nh yêu làm cho Tông Đồ mạnh mẽ nói : " Nếu
kẻ nào không yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô, đó là kẻ bị
kết án : Si quis non amat Dominum Jesum Christum, sít anathema !
". Có thể điều đó không có tính rộng lượng,
nhưng anh em biết rằng ai yêu nhiều th́ dung thứ
ít, và nói cách riêng khác, bản tính thật sự của t́nh
yêu ở trong sự rắn rỏi, mạnh mẽ của sự
bất dung thứ cao thượng và thẳng thắn. Những
lúc không c̣n năng lực nữa để yêu thương
hay để hận thù, con người không nhận ra rằng
sự rộng lượng thứ tha của họ là một
dạng thức mới của sự yếu đuối
nơi họ. Chúng ta từ chỗ là những người
bất dung thứ, bởi v́ chúng ta lấy sức mạnh
trong t́nh yêu ta dành cho Đức Giê Su Ki Tô. Đó là một
đặc tính phân biệt rất rành mạch. Đặc
tính ấy phân biệt ta với nhiều người khác.
b) T́nh yêu ta dành cho Thánh Nữ Đồng
Trinh, gương mẫu gần gũi nhất : T́nh yêu dành cho người Con dẫn ta
đến với t́nh yêu người Mẹ. T́nh cảm
tŕu mến của ta đối với Thánh Nữ Đồng
Trinh không có giới hạn, cũng như t́nh thương của
Mẹ dành cho ta không có giới hạn. Đức Giê Su Ki Tô
là gương mẫu hoàn thiện nhất của tất cả
mọi người. Nhưng Đức Giê Su Ki Tô là Chúa. Mẹ
Maria chỉ là tạo vật, song Mẹ cũng là một
gương mẫu ít làm nản ḷng tính yếu đuối
của ta v́ tính toàn thiện kém tuyệt đối hơn,
nếu tôi dám nói như vậy. Mẹ là gương mẫu
cho các con nuôi của Mẹ. Các con nuôi của Mẹ muốn
theo Mẹ vượt qua những mức độ thánh thiện
và mọi nhân đức mà sự thánh thiện chứa
đựng. Mẹ là gương mẫu được nêu
ra cho mọi người ki to hữu, nhất là cho các linh hồn
ưu tú mà nhu cầu có một sự sống hoàn thiện
hơn, trong sạch hơn, được hy sinh nhiều
hơn làm cho đau đớn, và ta thường được
phó thác dẫn dắt.
Trong những thử thách về đời
sống siêu nhiên : Cuộc
đời Mẹ Maria ở giữa vẻ đẹp do ân
huệ đặc biệt v́ việc Mẹ sinh ra không tỳ
vết và sự biến đổi hầu như là thiên
tính bởi lên việc Mẹ lên Trời đầy khải
hoàn. Như vậy chứng tỏ rằng ngay cả tạo
vật cũng có thể được nâng lên nhờ nhịn
nhục, hy sinh, đau khổ, từ bỏ, tra vấn trong
ḷng cao độ nhất. Cuộc sống dạy ta những
nghiêm khắc mà Thiên Chúa sử dụng đối với
các linh hồn ưu tú. Đó là tính toàn thiện, tính tế
nhị, những thử thách theo trật tự siêu nhiên
được đặt ra cho ta trước hết. Đó
c̣n là giảng dạy mà ta được giao để mạc
khải cho những ai muốn thấy được tóm
lược trong một linh hồn tất cả những sự
vừa ư của Thiên Chúa đối với tạo vật
mà Người đă yêu thương nhất.
Trong những đau khổ của chức
tông đồ: Sự vô tội không thể so sánh của Mẹ
Maria và những đau khổ của Mẹ cũng không thể
so sánh đem lại cho ta, trong mâu thuận theo vẻ bên
ngoài, mầu nhiệm mà con người không thể hiểu
thấu, hạnh phúc minh chứng t́nh yêu bằng đau khổ
và bằng sức mạnh hy sinh khi t́nh yêu là căn nguyên.
Hơn nữa, Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giê Su, không phải Mẹ
có thể là gương mẫu của ta trong mầu nhiệm
nhập thế? Đúng vậy, về mặt này, Mẹ sẽ
là gương mẫu cho chúng ta nhờ tính nhiệt tâm mà Mẹ
linh hứng cho ta và khát mong sinh ra những linh hồn cho Chúa
Giê Su Ki Tô và sinh Chúa Giê Su Ki Tô trong các linh hồn : Filioli
quos iterum parturio, donec Christus formetur in vobis. Đó là tiếng
kêu do những mối lo sợ trong công cuộc rao giảng
tông đồ. Tiếng kêu cứu này đối với
chúng ta cũng như đối với Mẹ Maria, khởi
đầu tại hang đá và chỉ kết thúc ở cây
thập giá. Thế nhưng, ḷng sùng kính hiểu như vậy
có thể là khá xa cách ḷng sùng kính uể oải với lí do
muốn nhẹ nhàng, không có năng lực, số
x́-căng-đan. Những nhượng bộ, những phản
bội của báo chí không c̣n biết chỉ ra cây Thập
giá đầy hoa và thuốc thơm và đồi Calvaire bị
ch́m trong khí uất lờ mờ.
c) T́nh yêu đối với Giáo Hội. Mầu
nhiệm Giáo Hội : Tôi có
thể nói ǵ về t́nh yêu đối với Giáo Hội ?
Giáo Hội là cái ǵ đó rất đáng ngưỡng mộ
mà mọi thành ngữ dường như không đủ
dưới bút danh của các nhà văn thiêng liêng để
nói lên những ḱ diệu của Giáo Hội, những giàu
có, sức mạnh, vẻ đẹp, vinh quang của Giáo Hội.
Hăy lắng nghe Giáo Hội nói với anh em rằng Giáo Hội
là nhà tạm của Thiên Chúa với con người, là cột
trụ và là nền tảng không thể lay chuyển của
sự thật đời đời. Rằng Giáo Hội là
thân thể huyền nhiệm và là nét toàn thiện cuối
cùng của Chúa Giê Su Ki Tô. Rằng Giáo Hội c̣n là Hiền
Thê không tỳ vết và hoàn toàn đẹp đẽ của
Người. Đối với Giáo Hội, Con Thiên Chúa
đă đến trần gian và đă hiệp nhất với
nhân loại. Người muốn dùng Giáo Hội để
mở rộng cái lều của Người. Giáo Hội là
nơi Người ưa thích hơn hết, là đội
binh nhờ đó mà Người hủy diệt kẻ thù. Tất
cả mọi danh hiệu ấy của Giáo Hội, danh hiệu
đánh động ta nhất là danh hiệu Hiền Thê. Hiền
Thê là lí do của những ưa thích nhất đầy tính
ghen tị của người Phu Thê là Thiên Chúa. Ta yêu mến
Giáo Hội bởi v́ Đức Giê Su Ki Tô đă yêu
thương Giáo Hội. T́nh yêu của ta mang ba đặc
tính: siêu nhiên, táo bạo, vô vị lợi.
Đặc tính t́nh yêu này: siêu nhiên đối
diện với chủ nghĩa tự nhiên thời hiện
đại: T́nh yêu là siêu
nhiên. Chính trật tự siêu nhiên này làm ta vui thích tràn đầy
ḷng cảm phục đối với Giáo Hội. Mọi sự
được thực hiện cho những người
được chọn với mục đích chỉ ở
trong Giáo Hội. Nếu có khi nào sự tranh đấu giữa
sự lành và sự dữ (giữa thiện và ác), giữa
thật và giả, giữa Giêrusalem và Babylon, giữa thiên
đàng và địa ngục, giữa Giáo Hội và Cách mạng,
đă được tỏ hiện, cuộc tranh đấu
đó chắc chắn diễn ra chính hôm nay. Hăy nghe con
người lập lại lời của Satan: "Tôi sẽ
không vâng nghe, tôi sẽ lên trời và sẽ trở nên như
Đấng Tối Cao: Non serviam, in coelum conscendam, et similis
ero Altissimo ". Con người đi đến phủ
nhận Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa gây chướng ngại
cho con người khi đạt vào con người cái ách của
lương tâm, của bổn phận, của nhân đức.
Cái ách ấy, để có thể bẻ găy nó, con người
không có cách nào khác ngoài việc nói lên rằng: Thiên Chúa không tồn
tại. C̣n ta, đối diện với những vấn
đề tương tự như vậy, như xếp
trưởng của đoàn binh trên trời, ta phải không
ngừng lập lại lời này: "Kẻ nào có thể
như Chúa? Quis ut Deus?" Satan, để lật đổ
Giáo Hội, cố gắng lật đổ mọi trật
tự xă hội, và năm mươi hoặc sáu mươi
ngai ṭa bị suy sụp từ một thế kỉ này do
Satan đều là kinh nghiệm từ những cố gắng
cuối cùng để nó lật đổ ngai Ṭa của
Đấng đại diện Đức Giê Su Ki Tô trên trần
gian, trong sự bất lực của nó khi muốn lật
đổ chính ngai ṭa của Đức Giê Su Ki Tô trên trời.
Nolumus hunc regnare super nos! Bọn ở địa ngục
la lên, và theo chúng là dân cứng tin, dân ô uế, dân tứ tung
đủ mọi thuyết giáo, tất cả đều là
nô lệ của người đàn bà đị điếm
mà thánh tông đồ nh́n thấy ngồi trên con vật
đầy những phạm thượng. Bà ta mặc đồ
phẩm tía, tay cầm chén chứa đầy điều
ghê tởm, và đầy vật hoen úa bởi tội thông
dâm, và trên trán của bà được ghi ḍng chữ này : Bí
nhiệm làm sao !
Anh em có thể
t́m thấy một bức tranh mang tính ngôn sứ nào khác
hơn, mang tính chính xác hơn về Cuộc cải cách?
Đó là kẻ thù rùng rợn của Thiên Chúa và của Giáo Hội.
T́nh yêu ta dành cho Giáo Hội sẽ có được chừng
mực nhờ ḷng nhiệt thành để lật độ
Cách mạng (cuộc cải cách?). Vậy nhưng, ta yêu mến
Giáo Hội bởi v́ Giáo Hội chứa đựng mọi
kho tàng siêu nhiên đă được Phu Thê Trên trời (Thiên
Chúa) tín thác và chính Cách mạng ghét bỏ. Trong Giáo Hội, ta
t́m thấy lời rao giảng về sự thật, luật
toàn thiện, mầm mống của mọi nhân đức.
Trong Giáo Hội ta t́m thấy Vương Quốc thật sự
của Thiên Chúa ở hạ thế, ta cũng t́m thấy sự
qui tụ đông đảo của các thánh và các môn đệ
Chúa Giê Su Ki Tô. Trong Giáo Hội, ta chiêm ngắm tính vững bền
ở giữa các xă hội đang bị suy tàn. Nhờ Giáo
Hội, ta có niềm hy vọng thiêng liêng đến một
hạnh phúc mà con người sống biệt lập sẽ
không thể với tới được. Nhờ Giáo Hội,
ta cảm nhận được sức mạnh để
vươn lên từ cơi lưu đày trên trần gian để
về quê trời, tổ quốc vĩnh cửu và vinh quang
của ta. Những tất cả những điều
đó đều vượt qua bản tính tự nhiên. Nó
thuộc về trật tự siêu nhiên mà chỉ Chúa Giê Su Ki
Tô qua Giáo Hội mới có thể dẫn đưa ta vào. Và
v́ điều đó mà t́nh yêu ta dành cho Giáo Hội trước
hết là một t́nh yêu siêu nhiên.
Sự táo bạo, mạnh dạn trong cuộc
hội ngộ với tính thận trọng quá nhân trần : Hơn nữa, t́nh yêu này là táo bạo.
Khi những hiểm nguy thôi thúc, khi những vực thẳm
được đào sâu, quá sâu dưới chân ta, khi những
hy vọng từ địa ngục tỏ hiện bằng
những tiếng than tai họa như những người
ta nghe mỗi ngày bùng phát niềm vui hoang dại, chạy
theo những lí thuyết thận trọng nơi xác thịt,
có nghĩa là những quyền lợi của con người,
và những phối hợp chính trị. Hơn cả sự
hèn nhát, đó là sự phản bội, là sư phạm
thượng. Người ta tố cáo ta quá làm hại thanh
danh của ḿnh, và đó chính là vinh quang của ta.
Ôi những kẻ thận trọng, tôi e
rằng các ngươi sẽ nhận thấy Giê Su Ki Tô rất
liều lĩnh khi Người làm liên lụy đến
công việc của Giáo Hội khi chết trên cây thập
giá. Các đấng tử đạo cũng là những
người điên dại. Các tông đồ là những
người ngu ngơ khi họ can đảm làm chứng
cho Sự Phục Sinh của Đấng Cứu Độ
dưới những cơn bách hại của dân do thái và
dân ngoại. Đối với ta, trong sự điện rồ,
ta ghen tị về tính táo bạo của đấng tử
v́ đạo, về tính liều lĩnh của các Tông Đồ,
và chính với tính táo bạo này mà ta mang ư định yêu mến
Giáo Hội, phục vụ Giáo Hội hết sức ḿnh,
luôn nhớ rằng thế gian đă được cứu
nhờ sự điên rồ rao giảng và sự táo bạo
có vẻ khinh suất của những người rao giảng.
Đó là t́nh yêu của người đứng
đầu các tông đồ (thánh Phêrô) và của nhà rao giảng
cho mọi nước (thánh Phao lồ). Thật vô ích cho rằng
t́nh yêu mạnh mẽ, táo bạo này rất hiếm trong thời
đại chúng ta. Nó c̣n khắc ghi một dấu ấn
đặc biệt. Nó là một lí do mới đối với
chúng ta để sống theo như ta mong muốn.
Cho không như mối t́nh yêu đích thực : Cuối cùng, t́nh yêu của chúng ta là cho
không, tôi không dám nói là hào hiệp, như mọi sự thiết
lập vĩ đại các ḍng tu trong thuở ban đầu.
Thật buồn khi thấy con người nhận hết
về ḿnh ít việc lành mà con người có khả năng
thực hiện, khi con người muốn thực hiện
một ḿnh và cản trở những người khác thực
hiện việc ấy, khi chính con người không thể
làm mọi việc. Ôi ! thưa anh em, mong đó không phải
là sự cám dỗ của ta. Anh em hăy yêu thương Giáo Hội
để vui mừng về những việc lành mà các con
cái của Giáo Hội hoàn thành và v́ sự chiến thắng
của Giáo Hội, đừng loại bỏ một h́nh thức
thánh thiện nào, dùng loại bỏ h́nh thức bác ái nào. Ta
không thể gánh vác hết tất cả mọi việc cho
ḿnh. Hăy yêu thương, hăy mến phục, hăy khích lệ những
người khác khả năng mà chính chúng ta không thể có.
Mong lợi ích chung là bận tâm duy nhất của chúng ta ;
như Môi Sen đă nói : utinam et omnes prophetent ! Cầu
xin tất cả mọi dân đều có thể rao giảng
tiên tri ! Sự khải hoàn của Giáo Hội sẽ trở
nên nhiều hơn và t́nh yêu ta dành cho Giáo Hội sẽ
được ủi an nhiều hơn nếu như chiến
thắng khải hoàn của Giáo Hội là khát khao vô vị lợi
của t́nh yêu ta, khi bỏ qua những lí do tỳ tiện
và cá nhân. Đó là sự cho không trong t́nh yêu mà cha không biết
làm thế nào đề nghị anh em cho phải lẽ. Nếu
anh em cho điều đó ít có tính chung, cha sẽ nhắc lại
một lần nữa rằng khi có được t́nh yêu
vô vị lợi ấy trong tầm rộng lớn và tính quảng
đại của nó, ta sẽ phân biệt rơ cách dễ dàng
hơn để nhận biết trên con đường ta
bước đi.
Anh em hăy yêu
mến Giáo Hội cách siêu nhiên, và anh em sẽ thấy biết
bao chúc lành ngay ở trần thế này, biết bao phần
thưởng dành cho anh em ở trên quê trời Thiên Chúa sẽ
dành cho bởi những công việc của ta, và nếu
như người đời không thấy anh em khéo léo
như một số người, ta không phải hổ thẹn
về lí do ấy.
II
Bằng những phương tiện
nào, những Việc làm của Ḍng Mẹ Về Trời
phát triển hơn bao giờ hết.
Anh em cho phép cha chỉ ra cho anh em cách ngắn
gọn những kết luận thực tiễn để
ta rút ra những ư nghĩ căn bản mà cha vừa mới
nói với anh em ?
Khẩu hiệu của ta thánh hiến ta
bằng chức vụ tông đồ đầy ḷng nhiệt
thành cũng như đầy tính vô vị lợi : Từ
câu khẩu hiệu ADVENIAT REGNUM TUUM, hiển nhiên chúng ta rằng
Tu Viện của ta là một Tu Viện hoạt động
tông đồ. Ḷng nhiệt thành đối với quyền
lợi của Thiên Chúa trên trần gian và ơn cứu độ
của các linh hồn. Đó chính là thể thức thiết
yếu của ḷng bác ái chúng ta. Quên đi chính ḿnh, sự tử
bỏ được áp đặt lên ta trước hết.
Ta không chú trọng đến những ǵ lên quan đến
ta, miễn là Đức Giê Su Ki Tô được rao giảng
: dummodo Christus annuntiertur. Ta không t́m cách nắm bắt mọi
nguyên nhân từ những môi bất ḥa nội bộ của
con cái Thiên Chúa. V́ quyền lợi, nhân phẩm ki tô giáo, họ
làm tan biến những cố gắng đấu tranh chống
lại kẻ thù chung. Thay vào đó, họ chú trọng đến
những đấu tranh giữa anh em. Khi những người
ki tô hưu và những người điều hành họ
không c̣n muốn đến ta trong nước họ nữa,
ta sẽ đi đến một nước khác. Đó là
giới răn của Chúa, Đấng sẽ luôn để
cho ta tự do cần thiết với tư cách là những
công nhân làm việc tông đồ.
a) T́nh yêu đối với Thiên Chúa
đ̣i hỏi ta học tập những sự toàn thiện
của Người : Ignoti
nulla cupido. Đức Giê Su Ki Tô, để được
yêu thương, muốn được biết đến.
Đặc biệt ta học về Người trong những
sách được linh hứng. Đức Giê Su Ki Tô sẽ
là kho tàng được đào bới dưới những
bức màn của những thánh thư. Ta sẽ cố gắng
nhận ra Người là Thiên Chúa, là Người và là Đấng
phân phát mọi ơn siêu nhiên để ḥa giải ta với
Chúa Cha. Thánh Augustinô, giáo trưởng của ta, sẽ là
người dẫn đắt chính của ta. Chuyên luận
về Ba Ngôi Vị nơi Thiên Chúa và những sách đáng
để tâm đến của Ngài đă làm cho Giáo Hội
hoàn cầu gọi ngài là tiến sĩ về ân sủng.
Đó là những cột mốc trong học tập của
ta về những vấn đề trọng yếu này. Ta cũng
thấy trong lá thư gửi cho Volusien, ngài bàn về việc
Nhập Thể, và, những chuyên luận của ngài như
: chống lại các triết giáo theo trường phái Platon
(académicien ?) để dẫn nhập tới thứ triết
học đích thật, về tự do ư chí và lá
thư gửi Dioscore.
Truyền đạt nguồn thông hiểu,
những chuyên luận do bằng việc thuyết giảng,
giáo dục... Chúa Giê Su Ki Tô,
Đấng được ta biết đến, là nguồn
thông hiểu mà ta t́m cách truyền đạt cách ưu tiên
nhất, trước hết là bằng việc thuyết giảng
: Nos autem praedicamus Christum crucifixum, và đó là đặc
tính phân cách ta khỏi việc giảng dạy nhạt nhẽo,
mang tính nhân trần, mang chủ nghĩa tự nhiên khiến
người ta hầu như không dám rao giảng Đức
Giê Su Ki Tô nữa, nhất là không c̣n dám nói về thập giá
của Người ; tiếp nữa, bằng giáo dục và
giảng dạy. Nếu ai đó hỏi giáo dục là ǵ với
chúng ta, ta sẽ trả lời : giáo dục là sự đào
tạo Đức Giê Su Ki Tô trong các linh hồn v́ giảng dạy
là việc sáng tỏ các linh hồn nhờ ánh sáng rực rỡ
của Đức Giê Su Ki Tô. Ta không mang tư tưởng
chủ chốt nào khác trong các
trường học mà tà đạo tạo, và nếu bao giờ
ta có được Trường Đại Học Công
Giáo, trên mặt chính của trường ta sẽ ghi : ut
cognoscant te solum Deum verum et quem misisti Jesum Christum.
b) T́nh yêu đối với Thánh Nữ
Đồng Trinh mời gọi ta đến với một
sự toàn thiện ở mức độ cao hơn : T́nh yêu của Chúa Giê Su và của Mẹ
Maria h́nh thành nên nguồn thông hiểu về đời sống
huyền nhiệm đối với ta. Những sự toàn
thiện của Chúa Giê Su Ki Tô được tỏ hiện
trong Tấn Ước. Những nhân đức của Mẹ
Maria được mạc khải trong sâu thẳm linh hồn
tạo nên như hai quyển sách mà ta suy niệm về sự
thánh thiện ta được mời gọi thông phần.
Và ta thánh hóa vào những việc thờ
kính các ơn gọi đồng trinh : T́nh yêu của Mẹ rất thánh Đồng
Trinh linh hứng cho ta một t́nh yêu khác được tồn
tại măi trong thế gian nhờ việc thờ kính Mẹ
Thiên Chúa. Cha nói về t́nh yêu đức trong sạch, và
đức khiết tịnh. Ngay ban đầu, đó đă
là một nét nổi bật của những người hoạt
động tông đồ và những sứ giả của
Giáo Hội dạy ta rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến việc tử đạo của thánh Phêrô và thánh Phao lồ là sự cố gắng
bền bỉ của hai thánh tông đồ để
đào luyện những người trinh khiết trung thành
ở Rôma vốn chưa biết Chúa và cho đến tận
cung lầu của để chế Néron.
Chúng ta muốn
giúp đỡ Mẹ Maria, Nữ Vương của ta, dẫn
về nhiều tŕnh nữ đến với Vua bất tử
đời đời : Adducentur Regi virgines post eam, và cảm
nhận về những vẻ đẹp mà một linh hồn
khiết tịnh và trong sạch chứa đựng nhằm
nâng ta lên cao hơn, như trên cánh cửa các thiên thần, về
ngai ṭa của Con Chiên không tỳ vết. Và nếu người
ta trách chúng ta quá ưu tiên những ơn gọi tu tŕ, ta sẽ
trả lời rằng điều tiếc nuối duy nhất
của ta là không ưu tiên việc đó.
c) T́nh yêu của ta đối với Giáo
Hội thánh hiến ta để bảo vệ Giáo Hội
trong thời đại ta lại bị rối ren : Cuối cùng, t́nh yêu Giáo Hội ban tặng
cho ta, trong thời đại hiện tại, một chân trời
hoàn toàn mới. Hay ghé mắt nh́n quanh các con : các con không nhận
thấy rằng các vực thẳm trở nên sâu hơn, rằng
những suy sụp chồng chất nhau, rằng những
thảm họa sắp xảy ra hay sao ? ở giữa những
lay chuyển này, Giáo Hội, đứng vững trên đá tảng
của ḿnh, nh́n thấy thế giới cứ bị ch́m
đắm, như từ những bờ sông Hippone thánh Âu
Tinh chiêm ngắm thành Rôma của Sésars bị tràn ngập bởi
những làn sóng thúc ép của bọn man rợ gây nên.
Quyển
sách mang tên Thành đô của Thiên Chúa (la Cité de Dieu)
đối với ta là sự mạc khải thứ hai, và
càng nghiên cứu, ta càng có thể t́m thấy trong đó bí mật
của tương lai nhờ vào phép loại suy. Biết bao
nỗi buồn, biết bao nản chí không phải do những
đống vôi gạch đổ nát bởi lưỡi
gươm và bỏi ngọn đuốc đốt cháy của
Attila, của Genséri hay sao ? Tuy nhiên, chính Thiên Chúa quyét sạch
cái xă hội thối nát ấy để chuẩn bị một
xă hội mới. Các Đức Giám Mục Xứ Gaules nhất
thiết không được coi khinh. Hăy thông minh như các tổ
phụ chúng ta. Các ngài đă đón chào và biến đổi
sự man rợ phong kiến. Đối với ta, hăy chào
đón và hăy biến đổi sự man rợ của chế
độ dân chủ. Có thể nói những vị giám mục
xưa của xứ Gaules và Rôma có ít nhiều uy thế bị
tiêu tan ; các ngài là những thành phần không nhỏ của
nuớc Pháp, và những đàn ong h́nh thành tổ ong, ta cũng
hăy làm như thế : không tiếc nuối quá vô ích trong quá
khứ, không hy vọng quá thất vọng trong tương
lai, hăy theo đuổi công việc của các con đúng
như Thiên Chúa đề ra. Có lẽ công việc ấy sẽ
c̣n lớn hơn với các dân trở nên ki tô hữu là với
những kẻ man rợ quá thô thiển bởi một thế
giới hoang dại.
Ở
đây, xuất hiện hai câu hỏi : Ai sẽ là người
hướng dẫn ta ? Đâu là những công việc của ta ?
Lấy Đức
Giáo Hoàng là người hướng dẫn : Ai sẽ là
người hướng dẫn ta? Đức Giáo Hoàng. Có
thể nói rằng chính trị, từ thời Philippe le Bel,
đă là sự mưu phản mảnh mẽ chống lại
Giáo Hoàng. Các vua không c̣n muốn Giáo Hoàng nữa như thế
nào; th́ ngày nay, ta thấy mọi dân cũng không muốn các
vua như vậy. Ta đi về đâu v́ ḷng hận thù phản
lại chế độ quân chủ này ? Có ǵ quan trọng ?
Quyền thế là cần thiết, nhưng không cần thiết
giao phó quyền thế cho vua chúa. Thiên Chúa xem lời thỉnh
cầu muốn có Vua của các con ông Giacob như một lời
nhục mă. Đừng nhấn mạnh đến nữa.
Nhưng tại sao lại phủ nhận? Nếu chuyện
đă rành mạch, đó là v́ làn sóng dân chủ tràn lan mỗi
ngày. Nhiều cuộc cách mạng. Ai biết được
đâu là hạt cất mà bọt băo tố sẽ đến
làm cho tan nát? Đối với cha, cha thấy Giáo Hội,
thấy việc Giáo Hội làm trước kia, và cha chờ
đợi.
Không phải nỗi buồn quá mức,
cũng không phải niềm hy vọng cực đoan ; mà là
sự tin tưởng vào Đức Giê Su Ki Tô, nơi Mẹ
Maria, nơi Giáo Hội, công việc bền bỉ, và những
ǵ c̣n lại có ǵ quan trọng ? Cha nhầm. Ai có thể cho rằng
những nỗ lực của ta sẽ không vui, miễn là
những nỗ lực ấy chứa tính thông minh ; và nhờ
đó cha bắt đầu trả lời câu hỏi thứ
hai mà cha đă đặt ra vừa rồi : Đâu sẽ là
những công việc của ta ?
Đó là mọi công
việc tái tạo tô giáo từ những người nghèo và
những người giàu : Ngoài những yếu tố mà cha
đă nêu ra, những việc mà qua đó quần chúng (giáo
dân) có thể được nâng cao giá trị, được
giáo huấn, được rắn bảo, những việc
mà qua đó chế độ dân chủ có thể được
biến thành ki tô giáo. Đó là những công việc ta phải
làm. Việc thăm các bệnh nhân, việc rao giảng tin mừng
cho những người nghèo, việc chỉ đạo những
trại mồ côi, việc phổ biến những quyển
sách tốt, và nhiều việc khác nữa không thể nêu ra
hết v́ nó nảy sinh ra mỗi ngày cũng là một cánh
đồng mênh mông. Đôi khi phải có một điều
kiện, đó là việc bố thí vật chất sẽ là
phương cách bố thí thiêng liêng đối với ta. Ta
giảm nhẹ gánh nặng thế xác để có đến
tận trong sâu thẳm linh hồn. Một vài xu đặt
vào tay người ăn xin là bước khởi đầu
của những kho tàng đức tin được tuôn
đổ vào trong các linh hồn khao khát sự thật, và
không c̣n cảm nhận được nữa cái nhu cầu
ấy v́ bị mất đi.
Bằng những công việc cho
người nghèo, ta đến ngay cả những người
giàu, kinh nghiệm cho thấy rằng ta đạt
được họ dễ dàng hơn, và một cách xứng
đáng hơn về ta và về Chúa khi ta mời gọi họ
dấn thân vào môi trường bác ái.
Bằng những sứ
mệnh: T́nh yêu của Giáo Hội thúc dục ta một t́nh yêu
khác trong ḷng. Không phải chỉ có ở Giêrusalem mà các tông
đ̣ phải làm chứng cho Chúa Giê Su Ki Tô, mà là đến
tận cùng trái đất: usque ad ultimum terrae. Đúng vậy,
những việc truyền đạo ở nước
ngoài là một tham vọng của ta. Nhờ ơn quan pḥng
nào khiến cho từ chỗ chỉ là một con số ít ỏi,
ta đă có biết bao nhà truyền giáo? Đồng thời
cũng nên nhận ra đâu là những trợ tá mà ta đă
mời gọi? Trước kia, người ta dấu những
trinh nữ dâng ḿnh cho Chúa sau những bức tường
nghiêm ngặt. Ngày nay, người ta lại bảo họ :
" Này các con, hăy ra khơi vượt cả biển mênh
mông ".
Một sự thay đổi xảy
ra không ngờ và nhờ ḷng nhân từ của Thiên Chúa và ḷng
tận tâm của các hiền thê của Người muốn
thánh hiến như chúng ta trong t́nh yêu vô biên và t́nh yêu tông truyền
đối với Giáo Hội ! Dấu ấn, theo
tương quan ấy, đào sâu hơn nữa dấu ấn
riêng của ta.
Trong sự trung
thành trọn vẹn chờ đợi những đường
hướng của Giáo Hội từ Công Đồng : Chắc là tất
cả những điều ấy rất quan trọng, và những
vấn đề mà cha vừa mới bàn qua và nó lẫn lộn
với đặc tính ơn gọi của ta làm ta rối
ren, nếu như ta không nhận thấy Vị Chủ Chăn
của Giáo Hội triệu tập các Vị Giám Mục bốn
phương và mời gọi họ bàn đến những
vấn đề này một cách long trọng nhất. Đó
là những vấn đề làm bận tâm toàn thể nhân loại.
Đó là những vấn đề mà Giáo Hội mới có
thể đưa ra quyết định cuối cùng.
Hăy chờ đợi những giải pháp trọng yếu này, đồng thời đón nhận tất cả những ǵ Tông ṭa Rôma luôn tuyên huấn. Đừng sợ tiên đoán các vấn đề khó khăn nhất sẽ được giải quyết theo hướng nào? Những va chạm sẽ có thể xảy ra. Anh em đừng bận tâm quá. Hăy cố gắng xoa dịu nỗi đau bằng ḷng bác ái kiên tŕ. Hăy để tự do cho mọi người khi Giáo Hội tán thành. Nhưng hăy biết bảo vệ học thuyết mà Giáo Hội khẳng định, những sự thật mà Giáo Hội xác định, những giới răn mà Giáo Hội ban bố, những điều cấm mà Giáo Hội công khai. Những hành vi đó đă luôn là v́ sự sống và hạnh phúc của toàn dân. Vinh quang của ta phải nhằm phục vụ cho việc hoàn tất công việc (sứ mệnh) mà Giáo Hội đề ra tùy theo sự yếu đuối. Đừng lo ngại những cản trở phải vượt qua, cũng như những kẻ thù phải đánh bại, những hậu quả do ḷng tận tâm v́ Người khiến ta phải chịu đựng. Qua đo có lẽ ta sẽ chấp nhận hơn nữa địa vị mà ta muố